-
01
Điển tịch Phật giáo Việt Nam lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán - Nôm
Tóm tắt
Di sản Hán Nôm Việt Nam hiện được lưu giữ tập trung nhiều nhất và phong phú nhất về nội dung tại Viện Nghiên cứu Hán-Nôm thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Các tư liệu Hán Nôm này do Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp tại Hà Nội thu thập vào những năm đầu thế kỷ XX và Viện Nghiên cứu Hán-Nôm tiếp tục sưu tầm vào những năm cuối của thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI. Trong số tư liệu nêu trên có khá nhiều văn bản điển tịch Phật giáo Việt Nam. Dựa vào bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu do Trần Nghĩa - François Gros (Đồng chủ biên) 3 tập, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; chúng tôi thống kê được 78 bộ/quyển, phân chia làm 4 loại như sau: 1. Điển tịch Phật giáo được biên tập và in ấn tại Việt Nam (17 bộ/quyển); 2. Điển tịch Phật giáo được diễn chữ Nôm Việt Nam (20 bộ/quyển); 3. Điển tịch Phật giáo chữ Hán do người Việt Nam soạn (20 bộ/quyển); 4. Điển tịch Phật giáo chữ Nôm do người Việt Nam soạn (21 bộ/quyển). Từ đó phân tích đặc điểm văn bản điển tịch Phật giáo Việt Nam hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán-Nôm.
Từ khoá
Điển tịch Phật giáoViệt NamViện Nghiên cứu Hán-NômXem chi tiết bài viết ↗ -
02
Tùng thư Phật điển Hán - Nôm Việt Nam
Tóm tắt
Phật giáo du nhập Việt Nam đã hơn 2.000 năm và sớm trở thành dòng sinh mệnh trong đời sống sinh hoạt và tư tưởng Việt Nam. Giáo lý Phật giáo được hoạt dụng hoá qua cách tư duy và phương thức ứng xử, cụ thể hoá qua hệ thống thư tịch, kinh điển. Do nằm trong vùng ảnh hưởng của nền văn hoá Hán, người Việt đã dùng chữ Hán làm tư liệu ghi chép kinh Phật. Hệ thống thư tịch, kinh điển ấy được ghi lại bằng hai loại ngôn ngữ viết, gồm chữ Hán và chữ Nôm. Cho đến nay vẫn chưa có một công trình sưu tập nào tương xứng với tầm vóc của nền Phật học Việt Nam trong lịch sử. Thư viện Huệ Quang đề xuất thực hiện Tùng thư Phật điển Hán - Nôm Việt Nam với kế hoạch, phương hướng cụ thể. Để có được bộ Tùng thư tương đối hoàn chỉnh, cần kết hợp song song đồng bộ ba công tác: sưu tầm - san định - ấn hành, và trên thực tế Thư viện cũng đã tiến hành một số công việc sưu tầm tư liệu trên cả 3 miền đất nước, có những thành quả nhất định ban đầu.
Từ khoá
Tùng thư Phật điển Hán - Nôm Việt Namsưu tầm tư liệubảo tồn di sảnXem chi tiết bài viết ↗ -
03
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong số hoá và dịch thuật số văn bản Phật giáo Việt Nam
Tóm tắt
AI ngày càng phát triển và đã ứng dụng thành công trong nhiều lĩnh vực, trong đó có việc số hóa và dịch thuật các thư tịch cổ. Trong bài báo này, chúng tôi sẽ trình bày việc ứng dụng AI để nhận dạng chữ quang học và dịch thuật (cả dịch âm và dịch nghĩa) các văn bản Phật giáo Việt Nam từ Hán hay Hán Nôm sang chữ Quốc ngữ. Ứng dụng này đã được xây dựng trên nền tảng website để mọi dịch giả có thể sử dụng nó như một công cụ trợ giúp đắc lực trong việc số hóa, cú đậu, dịch âm và dịch nghĩa các văn bản Phật giáo từ Hán sang Việt hay từ Hán Nôm sang chữ Quốc ngữ.
Từ khoá
số hóadịch thuật sốOCRdịch âmdịch nghĩaXem chi tiết bài viết ↗ -
04
Từ Thiền uyển tập anh đến Thiền uyển truyền đăng lục: Sự tái cấu trúc truyền thừa và kiến tạo lịch sử Phật giáo Việt Nam thời Nguyễn
Tóm tắt
Thiền uyển tập anh ghi nhận lịch sử Thiền học Việt Nam qua ba dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, nhưng không đề cập Trúc Lâm, đồng thời không dành vị trí độc lập cho yếu tố Lâm Tế từng được tư liệu thời Trần ghi nhận qua nhân vật Thiên Phong. Đến thời Lê, Như Sơn soạn Thiền uyển kế đăng lục (viết tắt là KĐL), tiếp nhận khung Ngũ đăng hội nguyên để dựng phả hệ cho Lâm Tế và Tào Động tại Việt Nam, nhưng khung ấy cũng không có chỗ cho Trúc Lâm. Sang thời Nguyễn, Phúc Điền hiệu chỉnh và tục biên các lớp văn bản này: đổi Thiền uyển tập anh (viết tắt là TUTA) thành Đại Nam thiền uyển truyền đăng tập lục làm quyển thượng, đồng thời soạn Đại Nam thiền uyển kế đăng lược lục (viết tắt là TUKĐLL) làm quyển hạ, nhằm nối Trúc Lâm vào Lâm Tế và đặt hai quyển dưới nhan đề chung là Thiền uyển truyền đăng lục (viết tắt là TUTĐL). Lấy hai mô hình truyền thừa của Đăng lục Trung Hoa - “một đời một Tổ” và “chia đèn truyền trao” làm khung phân tích, bài viết khảo sát quan hệ văn bản giữa TUTA, KĐLvà TUTĐL, qua đó làm rõ cách Phúc Điền gộp các pháp hệ mà tư liệu thời Trần từng phân biệt - Vô Ngôn Thông qua Tuệ Trung và Lâm Tế qua Thiên Phong - thành một mạch tự sự duy nhất. Bài viết cho rằng thao tác này không chỉ xuất phát từ nhu cầu bổ sung tư liệu, mà còn từ tiền giả định tông môn3 của Phúc Điền và ý thức kiến tạo lịch sử Phật giáo trong không gian “Đại Nam”. Vì vậy, TUTĐL cần được đọc không chỉ như kho tư liệu quá khứ, mà như kết quả của quá trình tuyển chọn, tổ chức và diễn giải lại truyền thừa Thiền tông Việt Nam thời Nguyễn.
Từ khoá
Đăng lụcPhúc ĐiềnTiền giả định tông mônÝ thức kiến tạo lịch sửXem chi tiết bài viết ↗ -
05
Tư liệu kinh sách Phật giáo tại chùa Đại Dương Sùng Phúc (chùa Sủi): Tình hình bảo quản, khai thác và phát huy giá trị
Tóm tắt
Tài liệu kinh sách chữ Hán – Nôm hiện đang được bảo quản tại chùa Đại Dương Sùng Phúc (chùa Sủi, Gia Lâm, Hà Nội) là một nguồn tư liệu quý giá của Phật giáo Việt Nam. Kho tư liệu này do trụ trì chùa sưu tầm bảo trải hơn 20 năm, bao gồm nhiều loại hình như kinh, luật, luận Phật giáo, sách Hán Nôm, và mộc bản khắc kinh. Nội dung các tài liệu không chỉ liên quan đến giáo lý Phật giáo mà còn chứa đựng nhiều thông tin về đời sống văn hoá tín ngưỡng và hành trạng các vị cao tăng. Giá trị của kho điển tịch thể hiện trên nhiều phương diện: lịch sử, văn hoá, học thuật và nghệ thuật. Đây là nguồn tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu Phật học, Hán Nôm và lịch sử Phật giáo. Tuy nhiên, hiện nay nhiều tài liệu đang bị xuống cấp do tác động của thời gian, điều kiện khí hậu và hạn chế trong công tác bảo quản. Việc kiểm kê, phân loại và số hoá vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. Do đó, cần có các giải pháp đồng bộ như bảo quản khoa học, lập danh mục tư liệu, số hoá và khai thác giá trị nhằm bảo tồn lâu dài và phát huy hiệu quả kho di sản này.
Từ khoá
Tư liệu Phật giáokinh sáchchùa Sủibảo tồnphát huysưu tầmXem chi tiết bài viết ↗ -
06
Lược quan về văn bản Phật giáo tại Viện nghiên cứu Hán - Nôm
Tóm tắt
Bài viết sơ bộ khảo sát 420 văn bản Phật giáo Hán Nôm hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán - Nôm nhằm nhận diện cấu trúc, đặc trưng và giá trị của nguồn tư liệu này. Trên cơ sở phân loại theo nội dung và chức năng, nghiên cứu đề xuất mô hình gồm năm nhóm văn bản: kinh điển, chú giải, trích yếu, nghi lễ - thực hành và dân gian hóa. Kết quả cho thấy hệ thống văn bản không tồn tại rời rạc mà hình thành một cấu trúc chuyển hóa từ kinh điển đến diễn giải, ứng dụng và bản địa hóa trong đời sống Phật giáo Việt Nam. Trong đó, nhóm nghi lễ - thực hành chiếm tỷ lệ lớn nhất, phản ánh đặc điểm của khối tư liệu Phật giáo Hán Nôm hiện đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán - Nôm; còn các văn bản diễn Nôm và truyện nhân quả thể hiện rõ quá trình Việt hóa và dân gian hóa giáo lý. Từ đó, bài viết góp phần nhận diện đặc trưng của khối tư liệu Phật giáo tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, đồng thời gợi mở hướng tiếp cận từ văn bản học và lịch sử tư tưởng Phật giáo Việt Nam.
Từ khoá
Văn bản Phật giáo Hán NômĐặc trưng văn bảnNghi lễ Phật giáoBản địa hóaVăn bản họcXem chi tiết bài viết ↗ -
07
Hoạt động dịch kinh sách từ chữ Hán sang chữ Quốc ngữ trong phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX
Tóm tắt
Đầu thế kỷ XX, dưới tác động của chính sách thuộc địa, khả năng Hán học của tăng ni suy giảm, vì vậy, hoạt động dịch kinh sách Phật giáo từ chữ Hán sang chữ Quốc ngữ được xác định là nhiệm vụ trọng yếu nhằm duy trì, phổ biến giáo lý. Trên cơ sở khảo sát bốn trường hợp ở ba miền Nam - Trung - Bắc: Vô thần luận của Thiện Chiếu, Phật thuyết kinh Di đà và Bát Nhã tâm kinh giảng nghĩa của Trí Độ, Diễn âm kinh Kim cương thọ mệnh của Thiều Chửu, và phân tích bối cảnh, cách tổ chức văn bản, phong cách dịch, bài viết chỉ ra hoạt động chuyển ngữ kinh sách giai đoạn này có nhiều hình thức, với sự tham gia của cả tăng sĩ và cư sĩ, hướng tới các đối tượng độc giả khác nhau. Bài viết khẳng định dịch kinh sách là trục vận động trung tâm của phong trào chấn hưng, gắn với nỗ lực duy trì truyền thống giáo lý trước biến động ngôn ngữ, văn hoá thời thuộc địa, đồng thời gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo về vấn đề này.
Từ khoá
dịch kinh sách Phật giáochấn hưngchữ Quốc ngữThiện ChiếuTrí ĐộThiều ChửuXem chi tiết bài viết ↗ -
08
Mộc bản các điển tịch Phật giáo tại chùa Vĩnh Khánh - Hiện trạng và định hướng nghiên cứu, bảo tồn
Tóm tắt
Chùa Vĩnh Khánh (dân gian thường gọi là chùa Trăm Gian hay chùa Yên Ninh) tọa lạc tại thôn An Đông, xã An Phú, TP. Hải Phòng (trước ngày 01/7/2025 thuộc xã An Bình, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), được khởi dựng từ thế kỷ XVII, dưới thời Lê Trung hưng. Đây là một danh lam cổ tự thuộc dòng Lâm Tế, nằm trong hệ thống sơn môn của chốn tổ Bổ Đà (Bắc Giang). Chùa có quy mô kiến trúc lớn, trải qua nhiều biến động của lịch sử, hiện chùa còn lưu giữ nhiều hạng mục kiến trúc cổ kính và hệ thống di sản tư liệu Hán Nôm phong phú, quý giá như mộc bản, hệ thống hoành phi, câu đối, bia đá, chuông đồng, các điển tịch Phật giáo,… Việc nghiên cứu và bảo tồn hệ thống mộc bản tại chùa Vĩnh Khánh góp phần làm sáng tỏ đời sống tôn giáo, lịch sử truyền thừa của Phật giáo Lâm Tế trong vùng và cung cấp những cứ liệu khoa học có giá trị cho việc nghiên cứu tư tưởng, văn hóa và đời sống xã hội qua các triều đại phong kiến Việt Nam thời trung đại. Tuy nhiên, hiện trạng bảo quản và các công trình nghiên cứu chuyên sâu về di sản tư liệu, đặc biệt là khối mộc bản san khắc các nội dung điển tịch Phật giáo tại đây vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với vị trí, giá trị của nhóm di sản này trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Trong khuôn khổ bài tham luận này, chúng tôi sẽ đề cập đến hiện trạng của khối mộc bản san khắc một số điển tịch Phật giáo tại chùa Vĩnh Khánh, từ đó phân tích những thách thức đặt ra và đề xuất các định hướng nghiên cứu, bảo tồn cụ thể, thiết thực trong giai đoạn hiện nay.
Từ khoá
Chùa Vĩnh Khánhchùa Trăm Gianchùa Yên Ninhđiển tịch Phật giáomộc bản chùa Vĩnh KhánhXem chi tiết bài viết ↗ -
09
Về phân loại và định hướng số hoá để quản lý tư liệu Phật giáo Việt Nam
Tóm tắt
Bài viết giới thiệu các cách phân loại và số hoá để quản lý tư liệu Phật giáo Việt Nam, bao gồm gồm sách vở, bia ký, mộc bản, tượng Phật, hoành phi - câu đối,... và một số áp dụng thực tiễn ở Trung tâm Tư liệu Phật giáo Việt Nam.
Từ khoá
tư liệu Phật giáocơ sở dữ liệusố hoáAPIAIXem chi tiết bài viết ↗ -
10
Giá trị văn bản và vị trí của Tam Tổ thực lục trong lịch sử Phật giáo Việt Nam
Tóm tắt
Tam tổ thực lục là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, đồng thời là nguồn tư liệu có giá trị lớn đối với lịch sử Phật giáo Việt Nam và văn học trung đại dân tộc. Tác phẩm ghi chép cuộc đời, hành trạng của ba vị tổ sư Trúc Lâm là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang. Trải qua nhiều biến động lịch sử, tác phẩm được lưu truyền qua nhiều lần khắc in và trở thành thư tịch nền tảng để nghiên cứu về Trúc Lâm Yên Tử. Bài viết này khảo sát hoàn cảnh ra đời, quá trình truyền bản, cấu trúc nội dung, đồng thời phân tích các giá trị tư tưởng, lịch sử, văn học và giáo dục của tác phẩm. Qua đó cho thấy Tam tổ thực lục không chỉ phản ánh diện mạo của Phật giáo thời Trần mà còn thể hiện rõ tinh thần nhập thế, tư tưởng hộ quốc an dân và truyền thống dung hòa tam giáo của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm cũng lưu giữ nhiều tư liệu quý về hệ thống chùa tháp, sinh hoạt tôn giáo và quan hệ giữa Phật giáo với triều đình đương thời. Ở phương diện văn học, đây là trước tác mang nhiều giá trị tự sự, có ảnh hưởng sâu rộng đến sáng tác trung đại về sau. Từ những phương diện ấy, Tam tổ thực lục khẳng định vị trí đặc biệt trong kho tàng thư tịch Hán Nôm Việt Nam và cần được tiếp tục khảo cứu, phiên dịch, phổ biến rộng rãi trong giới học thuật hiện nay.
Từ khoá
Tam tổ thực lụcTrúc Lâm Yên TửPhật giáo Việt Namvăn học Phật giáoHán NômXem chi tiết bài viết ↗ -
11
Mộc bản và điển tịch cổ Phật giáo – Nơi lưu giữ những dấu ấn Phật giáo vùng Bắc Tây Nguyên
Tóm tắt
Mộc bản và điển tịch cổ Phật giáo là những “trầm tích ký ức” lưu giữ lịch sử, tư tưởng và văn hóa Phật giáo Việt Nam qua nhiều thế kỷ. Tại Bắc Tây Nguyên, tuy Phật giáo du nhập tương đối muộn, nhưng chùa Sắc tứ Bác Ái - hiện còn bảo tồn một số mộc bản và điển tịch Hán Nôm có giá trị, phản ánh quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo trên cao nguyên. Dù số lượng không nhiều, gồm các mộc bản phái Quy y, Chứng điệp Sa-di giới, Lục Thù Hải Hội, Tịnh Độ Môn kinh…, do Hòa thượng Tăng cang Từ Vân cho khắc cùng nhiều bản thủ bút của chư Tôn đức, đây vẫn là nguồn tư liệu quý hiếm đối với việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo địa phương. Trong bài tham luận chủ yếu tập trung làm rõ giá trị lịch sử, văn hóa và học thuật của khối tư liệu này, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo tồn, số hóa và phát huy hiệu quả di sản trong bối cảnh hiện nay.
Từ khoá
Mộc bảnđiển tịchPhật giáoBắc Tây NguyênXem chi tiết bài viết ↗ -
12
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong bảo tồn tư liệu Hán văn Phật giáo Việt Nam
Tóm tắt
Trong xu thế chuyển đổi số, tư liệu văn bản Phật giáo Việt Nam viết bằng Hán văn đang đối diện nguy cơ xuống cấp do thời gian và điều kiện lưu trữ hạn chế. Nhiều tài liệu bị rách, mờ chữ, mất nét hoặc thiếu trang, gây khó khăn cho công tác bảo tồn và nghiên cứu. Bài viết phân tích khả năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong bảo tồn và phục dựng nguồn tư liệu này. Đối tượng nghiên cứu là các văn bản Hán văn Phật giáo bị hư hại lưu giữ tại chùa chiền, thư viện và trung tâm lưu trữ ở Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu gồm phân tích tư liệu, tiếp cận liên ngành và thử nghiệm AI tạo sinh trong hiệu đính, tái tạo ngữ cảnh, hỗ trợ phục dựng văn bản sau số hoá. Kết quả bước đầu cho thấy AI có thể nâng cao chất lượng ảnh, nhận diện ký tự mờ, gợi ý phục hồi chữ khuyết nét và xây dựng cơ sở dữ liệu số phục vụ tra cứu. Nghiên cứu khẳng định vai trò của công nghệ số trong bảo tồn di sản văn bản Hán văn Phật giáo Việt Nam.
Từ khoá
Trí tuệ nhân tạoHán vănPhật giáo Việt NamBảo tồn sốPhục dựng văn bảnXem chi tiết bài viết ↗ -
13
Thư tịch và văn khắc Phật giáo Hán Nôm trong hệ sinh thái ký ức văn hoá Việt Nam: Một số lát cắt từ trung đại đến đương đại
Tóm tắt
Nghiên cứu này xem thư tịch và văn khắc Phật giáo Hán Nôm như những vật mang ký ức có khả năng lưu giữ, tuyển chọn và tái diễn giải quá khứ Phật giáo trong các bối cảnh lịch sử khác nhau. Đối tượng nghiên cứu là lớp tư liệu văn bản Phật giáo Hán Nôm, với trọng tâm ở Thiền uyển tập anh, Khoá hư lục, Cư trần lạc đạo phú, Thánh đăng lục, Tam tổ thực lục và một số văn bia Phật giáo tiêu biểu. Phạm vi không nhằm bao quát toàn bộ Phật giáo Việt Nam, mà khảo sát một số lát cắt từ trung đại đến cách các tư liệu ấy được số hoá và tái ngữ cảnh hoá hiện nay. Bài viết sử dụng đọc gần văn bản, phân tích văn bản học - sử liệu học, đối chiếu liên văn bản và tam giác hoá giữa bản gốc/bản số hoá, nghiên cứu Hán Nôm gần đây và dữ liệu về hoạt động bảo tồn. Kết quả cho thấy ký ức Phật giáo không được truyền đi như nội dung bất biến: Thiền uyển tập anh tổ chức ký ức Thiền sư bằng tiểu truyện và kệ; Khoá hư lục cùng Cư trần lạc đạo phú chuyển triết lý Phật học thành ngôn ngữ thực hành; Thánh đăng lục và Tam tổ thực lục kiến tạo trật tự truyền thừa; văn bia cố định ký ức công đức, cảnh quan và mạng lưới xã hội; còn số hoá tạo một vòng đời tư liệu mới, đồng thời đặt ra yêu cầu về xuất xứ, dị bản và siêu dữ liệu. Đóng góp của bài viết nằm ở việc đưa chứng cứ Hán Nôm trực tiếp vào khung ký ức văn hoá và xác định rõ giới hạn của suy luận từ tư liệu.
Từ khoá
Hán NômKý ức văn hoáPhật giáo Việt NamThư tịch Phật giáoVăn khắc Phật giáoXem chi tiết bài viết ↗ -
14
Ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong sưu tầm, bảo tồn điển tịch Phật giáo Việt Nam
Tóm tắt
Điển tịch Phật giáo Việt Nam là một bộ phận quan trọng của kho tàng di sản văn hoá dân tộc, bao gồm hàng nghìn văn bản kinh điển, luận giải và nghi lễ được viết hoặc khắc in bằng chữ Hán và chữ Nôm qua nhiều thế kỷ. Trước thực trạng xuống cấp và nguy cơ thất truyền ngày càng hiện hữu, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) vào công tác sưu tầm, lưu trữ và bảo tồn nguồn tư liệu quý báu này đang trở thành một hướng tiếp cận có tính chiến lược và cấp thiết. Bài viết phân tích thực trạng điển tịch Phật giáo Việt Nam; đánh giá các phương pháp số hoá tài liệu (3D scanning, multispectral imaging, high-resolution photography); ứng dụng AI trong nhận dạng ký tự quang học (OCR) đối với chữ Hán - Nôm; xây dựng cơ sở dữ liệu chuẩn hoá và nền tảng truy cập mở; đồng thời tham chiếu kinh nghiệm của các dự án quốc tế tiêu biểu trong lĩnh vực nhân văn số (digital humanities) ứng dụng cho Phật học, như Buddhist Digital Resource Center (BDRC), International Dunhuang Project (IDP), Chinese Buddhist Electronic Text Association (CBETA), SAT Daizōkyō Text Database (Nhật Bản), các dự án số hoá Đại tạng kinh đang được triển khai tại Trung Quốc và dự án số hoá của Thư viện Quốc gia Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp tích hợp công nghệ vào chiến lược bảo tồn điển tịch Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, góp phần vào việc gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hoá tôn giáo của dân tộc.
Từ khoá
Điển tịch Phật giáoCông nghệ sốNhân văn sốSố hoá di sảnBảo tồn văn hoáPhật giáo Việt NamXem chi tiết bài viết ↗ -
15
Một số vị Tổ sư ở chùa Thầy qua Bài tựa sách Sài Sơn thắng tích tạp kỷ 柴山勝蹟襍紀
Tóm tắt
Sài Sơn thắng tích tạp kỷ 柴山勝蹟襍紀 ký hiệu A.923 lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán - Nôm thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Bộ sách này do Thiền sư Tuệ Giác Trúc Vân biên soạn, đệ tử Tuệ Không kiểm duyệt, hiệu đính, đệ tử Tuệ Chân ghi chép từ đầu thế kỷ XIX. Bài tựa sách ngoài việc giới thiệu bố cục tác phẩm, mục đích và phương pháp biên soạn thì còn kể khá chi tiết về tiểu sử tác giả Tuệ Giác Trúc Vân, bên cạnh đó cung cấp thêm một số thông tin về các vị như Tuệ Định, Tuệ Không và Tuệ Chân. Bài viết cung cấp thông tin về một số Tổ sư ở chùa Thầy trong giai đoạn Lê Mạt - Nguyễn Sơ, góp phần tìm hiểu về tiểu sử các vị Tổ sư tại ngôi cổ tự này.
Từ khoá
Tổ sưchùa ThầyTuệ Giác Trúc VânTuệ ChânTuệ KhôngXem chi tiết bài viết ↗ -
16
Lịch sử truyền bản và trùng san Kinh Nhân vương hộ quốc tại chùa Vĩnh Khánh qua hai bài tựa khắc in thế kỷ XVIII - XIX
Tóm tắt
Bài viết khảo cứu lịch sử truyền bản và trùng san Kinh Nhân vương hộ quốc Bát nhã Ba la mật đa tại chùa Vĩnh Khánh thông qua hai bài tựa khắc in thuộc thế kỷ XVIII XIX. Từ bài tựa soạn năm Long Đức thứ hai (1733) của Điền Quận Công Trần Đình Ngọc và bài duyên khởi trùng san năm Tự Đức thứ ba mươi lăm (1882), bài viết bước đầu giới thiệu quá trình lưu truyền, tiếp nhận và trùng san bộ Kinh Nhân vương hộ quốc trong môi trường Phật giáo Bắc Bộ. Qua các tư liệu này, có thể nhận thấy Kinh Nhân vương hộ quốc được du nhập vào Việt Nam không chỉ qua con đường tôn giáo hay tăng sĩ truyền thống mà còn thông qua hoạt động đi sứ sang Trung Quốc của tầng lớp quan lại triều đình. Đồng thời, quá trình trùng san thế kỷ XIX cho thấy vai trò nổi bật của chùa Vĩnh Khánh và sơn môn Long Động trong việc lưu giữ, hiệu khám, khắc in và lưu hành văn bản Phật giáo. Từ góc nhìn lịch sử và văn bản học Hán Nôm, bài viết góp phần làm rõ đời sống của một bản kinh Phật giáo qua các giai đoạn truyền bản, thất lạc, hiệu đính và trùng san. Đồng thời, tư tưởng “hộ quốc” của Kinh Nhân vương hộ quốc cho thấy hoạt động khắc in kinh không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo mà còn gắn với ý thức hộ quốc an dân và tạo lập công đức trong xã hội Việt Nam thời trung đại.
Từ khoá
Kinh Nhân vương hộ quốctrùng san kinh Phậtchùa Vĩnh KhánhPhật giáo Lê Trung hưngXem chi tiết bài viết ↗ -
17
Kỹ thuật khắc – in mộc bản, rập minh văn trong công tác điền dã, sưu tầm tư liệu Hán Nôm
Tóm tắt
Kỹ nghệ khắc - in mộc bản, rập minh văn theo phương thức truyền thống của người Việt là loại hình thủ công được người Việt sử dụng trong quá khứ, đem lại những cảm nhận xúc giác đầy chân thật qua từng sản phẩm in ấn. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ ra những yếu tố kỹ thuật căn bản nhất của việc in, rập thủ công đối với mộc bản và minh văn – loại hình di sản thường gặp ở Việt Nam, hệ thống hoá thành quy trình, cùng với đó là những nguyên tắc cơ bản cần được ghi nhớ và tuân thủ đối với người thực hiện công việc in, rập này. Đây là sự nỗ lực tìm về với kỹ nghệ truyền thống, tái định vị giá trị của nghệ thuật cổ truyền mang đậm dấu ấn thẩm mỹ Á Đông, đồng thời bảo tồn, giữ gìn đúng nghĩa kỹ nghệ in, rập thủ công - di sản quý báu mà cha ông để lại.
Từ khoá
bảo tồn di sảnmộc bảnminh vănthác bảnXem chi tiết bài viết ↗ -
18
Khung pháp lý về quản trị di sản tư liệu Phật giáo - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện
Tóm tắt
Bài viết tập trung nhận diện hệ thống pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động quản trị di sản tư liệu Phật giáo tại Việt Nam, bao gồm Luật Di sản văn hoá, Luật Lưu trữ và các Thông tư, Nghị định liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra công tác quản lý hiện nay vẫn đối mặt với nhiều bất cập cốt lõi: sự vướng mắc trong phân định quyền sở hữu của các tự viện với thẩm quyền quản lý nhà nước; thiếu hụt các quy chuẩn kỹ thuật bảo quản, phục chế chuyên biệt cho tư liệu tôn giáo; cùng khoảng trống pháp lý về quản trị dữ liệu số và cơ chế huy động nguồn lực tái đầu tư. Từ đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý như làm rõ nội hàm khái niệm “di sản tư liệu” trong Luật Di sản văn hoá, định hướng ban hành chính sách cho các hoạt động số hoá di sản, vận dụng kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực tương đồng,... Điều này không chỉ giúp bảo tồn hiệu quả di sản mà còn phát huy tối đa giá trị văn hoá - lịch sử của Phật giáo trong đời sống đương đại.
Từ khoá
Di sản tư liệuPhật giáoLuật Di sản văn hoáquản trị di sảnXem chi tiết bài viết ↗ -
19
Từ kinh sách đến ký ức số: Phật điển Việt Nam nhìn từ góc độ di sản tư liệu
Tóm tắt
Bài viết nghiên cứu Phật điển Việt Nam như một loại hình di sản tư liệu, thay vì chỉ xem đó là kho văn bản tôn giáo phục vụ tu học và nghi lễ. Từ cách tiếp cận liên ngành giữa Hán Nôm học, Phật học, thư tịch học, bảo tồn di sản và nhân văn số, bài viết xác định Phật điển Việt Nam là phức hợp tư liệu gồm mộc bản, bản in, bản chép, văn bản nghi lễ, trước tác thiền học và bản số hoá trong không gian văn hoá Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu là hệ thống Phật điển Hán Nôm, trọng tâm là mộc bản và thư tịch Phật giáo từ thời trung đại đến đầu thế kỷ XX. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào giá trị tư liệu học, ngôn ngữ, kỹ thuật, ký ức cộng đồng và khả năng phát huy số. Phương pháp gồm tổng quan tài liệu, phân tích văn bản học và phân tích giá trị di sản theo khung Memory of the World. Kết quả cho thấy Phật điển Việt Nam là chứng tích tiếp biến kinh điển khu vực, đồng thời là bằng chứng về năng lực bản địa hoá giáo lý, chữ viết, kỹ thuật khắc in và tổ chức tri thức của cộng đồng Phật giáo Việt Nam. Bài viết đề xuất mô hình bảo tồn gồm bốn trụ cột: kiểm kê, bảo quản, phiên dịch và truy cập mở có kiểm soát.
Từ khoá
Bảo tồn di sảnDi sản tư liệuHán NômMộc bảnPhật điển Việt NamXem chi tiết bài viết ↗
-
20
Điển hoá mây mưa, Lễ hoá ký ức: Hiến Cổ Châu Phật Tổ nghi và các bản văn cầu mưa Chùa Dâu
Tóm tắt
Bài viết khảo sát cụm văn bản mộc bản Chùa Dâu như một hồ sơ khoa nghi hơn là một tập hợp truyện tích rời rạc. Trọng tâm là ba văn bản: Hiến Cổ Châu Phật tổ nghi 獻古 珠佛祖儀 (Cổ Châu nghi), Kỳ vũ thỉnh Long vương nghi 祈雨請龍王儀 và Kỳ vũ kinh 祈雨 經. Cổ Châu nghi nghi lễ hoá ký ức Man Nương - Khâu Đà La - Tứ Pháp; Kỳ vũ thỉnh Long vương nghi chuyên môn hoá hành vi cầu mưa qua Long vương, chân ngôn, sớ-biểu, phù chú và lệnh thức ngã sắc 我敕; còn Kỳ vũ kinh kinh điển hoá việc cầu mưa bằng cách nối Thích Ca, Khâu Đà La, Lục Hà, Tứ Pháp và linh nghiệm Cổ Châu vào một ngữ pháp Phật giáo. Trên cơ sở phân tích cấu trúc văn bản, cận văn bản khắc in năm Nhâm Tý, niên hiệu Quang Trung thứ năm (1792), các chuỗi chân ngôn, danh mục Long vương, nghi thức hổ đầu, công thức “Pháp chủ sắc Ngũ phương Long vương hành vũ” 法主勅五方龍王行雨 và văn thư cầu mưa, bài viết lập luận rằng kho khoa nghi Chùa Dâu là nơi ký ức Phật mẫu, quyền năng khí tượng bản địa và kỹ thuật nghi lễ Hán truyền được tổ chức thành một hệ thống tác hành. Khái niệm “vũ trụ quan liêu” được dùng để giải thích cách thế giới vô hình được hình dung như một trật tự có chức vị, phương vị, văn thư, sắc lệnh và phản hồi; đồng thời khái niệm này được đặt trong đối thoại với các nghiên cứu về “imperial/bureaucratic metaphor” trong tôn giáo Đông Á và về quan hệ giữa Đạo giáo, Mật giáo và văn phòng hành chính thiêng. Vì vậy bài viết đề xuất đọc các bản di văn Chùa Dâu không chỉ như ký ức về sự du nhập Phật giáo hay như “tín ngưỡng dân gian” được Phật giáo hoá, mà như một thiết chế nghi lễ vận hành bằng văn bản. Trong thiết chế ấy, âm thanh Phạn hoá, văn pháp khoa nghi Hán truyền, diễn giải Hán-Nôm, mộc bản, hội làng, nữ tính thiêng, sinh thái lúa nước và nhu cầu quản trị hạn hán cùng tạo nên một cấu trúc dung hợp có trật tự. Trường hợp cụm văn bản mộc bản Chùa Dâu cho thấy lịch sử Phật giáo Việt Nam cần bao quát cả giáo lý, truyền thừa và tự viện lẫn từ khoa nghi, vật liệu khắc in, sớ-biểu, chân ngôn và những kỹ thuật điều hoà mưa trong đời sống làng xã tiền hiện đại.
Từ khoá
Chùa DâuCổ Châu nghiKỳ vũ thỉnh Long vương nghiKỳ vũ kinhMan NươngTứ PhápLong vươngchân ngôncầu mưavũ trụ quan liêuPhật giáo Hán truyềnMật giáomộc bản Hán-Nômdung hợp tôn giáoXem chi tiết bài viết ↗ -
21
Vấn đề văn bản và tác giả tác phẩm Hương Hải Thiền sư ngữ lục
Tóm tắt
Hương Hải thiền sư ngữ lục 香海禪師語錄 là tác phẩm văn học Phật giáo viết theo thể ngữ lục, nội dung chính của tác phẩm ghi lại tiểu sử, hành trạng và sự nghiệp hoằng dương Phật pháp của Thiền sư Minh Châu Hương Hải (1628 - 1715). Bên cạnh đó, tác phẩm còn ghi chép lại tình hình xã hội Việt Nam (Đàng Trong, Đàng Ngoài) thế kỷ XVII - XVIII, hay một số vấn đề về tôn giáo tín ngưỡng, v.v. Tác phẩm được khắc in năm Cảnh Hưng thứ 8 (1747) ở chùa Nguyệt Đường (nay thuộc phường Sơn Nam tỉnh Hưng Yên), sau đã bị mất do lũ lụt (không rõ thời gian). Đến năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), tác phẩm được “tân san” (khắc lại mới) tại chùa Sùng Khánh xã Vĩnh Trụ phủ Lý nhân tỉnh Hà Nội (nay thuộc xã Bắc Lý tỉnh Ninh Bình), mộc bản cũng đã bị mất. Hiện tác phẩm Hương Hải thiền sư ngữ lục tồn tại với 5 văn bản, dựa vào lý thuyết Văn bản học và Văn tự học, bài viết nghiên cứu quá trình truyền bản, niên đại bản sao, và tác giả tác phẩm.
Từ khoá
Minh Châu Hương HảiHương Hải thiền sư ngữ lụcVăn bản họctác giả tác phẩmXem chi tiết bài viết ↗ -
22
Như Lai ứng hiện đồ qua nghiên cứu của các học giả trong nước và quốc tế
Tóm tắt
Như Lai ứng hiện đồ (Tập truyện tranh khắc gỗ về sự tích của Đức Phật Như Lai) in lại vào niên hiệu Minh Mệnh thứ 13 (1839) ở Việt Nam đã được tác giả bài viết đi sâu nghiên cứu trong nhiều năm và đã đăng tải một số bài viết trên tạp chí trong nước và nước ngoài. Gần đây hai tác giả người Trung Quốc trên cơ sở tham khảo các bài viết ở Nhật Bản đã tiến hành khảo sát lại các bản Như Lai ứng hiện đồ lưu trữ ở Việt Nam, Thái Lan, Nhật Bản và Trung Quốc và đưa ra nhiều nhận xét có giá trị về bản Như Lai ứng hiện đồ lưu trữ tại Việt Nam. Qua nghiên cứu mỹ thuật về tranh vẽ trong tác phẩm, các tác giả đã khẳng định Như Lai ứng hiện đồ của Việt Nam là do họa sĩ người Việt Nam thực hiện, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tác phẩm Thích thị nguyên lưu của Trung Quốc ra đời vào thời nhà Minh. Mặt khác, ở Quảng Châu hiện lưu trữ một bản Như Lai xuất thế đồ do họa sĩ cung đình nhà Thanh vẽ vào năm 1819 hoàn toàn giống Như Lai ứng hiện đồ của Việt Nam. Trên cơ sở kế thừa thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, bài viết trở lại tổng thuật về tình hình các bản Như Lai ứng hiện đồ hiện lưu trữ ở Việt Nam và nước ngoài, đồng thời làm sáng tỏ bản Như Lai ứng hiện đồ tuy chịu ảnh hưởng của Thích thị nguyên lưu nhưng đúng như nhận xét cảu hai tác giả người Trung Quốc, các nhà biên soạn và họa sĩ Việt Nam đã chủ động thay đổi, nhằm thích ứng tính bản địa của văn hóa Phật giáo Việt Nam.
Từ khoá
Như Lai ứng hiện đồThích thị nguyên lưumỹ thuậtgiao lưu văn hóa Việt TrungXem chi tiết bài viết ↗ -
23
Sơ khảo văn bản Đạt Na Thái Tử Hạnh
Tóm tắt
Thái tử Đạt Na là một vị cổ Phật, được biết đến với danh hiệu Quang Minh Vương Phật. Ngài là con của vua Túc Vương nước Xá Vệ. Câu chuyện Thái tử Đạt Na xuất gia tu hành, chứng đắc thành Phật được ghi lại trong một số văn bản Hán - Nôm hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán - Nôm và tại thực địa. Lâu nay, việc giới thiệu về Thái tử Đạt Na, khảo cứu đặc điểm văn bản và giá trị nội dung của Đạt Na Thái tử hạnh bằng tiếng Việt vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Dựa trên văn bản Đạt Na Thái tử hạnh, tham luận sẽ lược khảo về các lưu bản, giới thiệu tổng lược nội dung truyện; đặc biệt lưu tâm khảo cứu về đặc điểm chữ Nôm và từ vựng tiếng Việt trong tác phẩm Đạt Na Thái tử hạnh.
Từ khoá
Đạt Na Thái tửPhật điểntư liệu Hán NômXem chi tiết bài viết ↗ -
24
Nữ lưu đề tựa: Nguyễn Thị Diệu Oánh và lời dẫn cho sách Giới sát phóng sinh diễn âm
Tóm tắt
Bài viết này giải đọc và phân tích lời dẫn (tựa) bằng Hán văn do nữ sĩ Nguyễn Thị Diệu Oánh viết cho tác phẩm Phật giáo dịch Nôm Giới sát phóng sinh diễn âm khắc in năm 1849 thời Tự Đức. Trong văn học trung đại Việt Nam, khi tựa bạt được cho là thể loại “bậc trên” quy định nghiêm ngặt cho nam giới trí thức ưu tú, thì sự xuất hiện của nữ sĩ Diệu Oánh là một trường hợp ngoại lệ đặc biệt và duy nhất. Lời dẫn thể hiện tri thức văn chương thông tuệ của bà qua việc sử dụng nhuần nhuyễn các điển cố động vật và thơ Thiền của thời Tống. Đồng thời, tác phẩm thể hiện tư tưởng dung hợp Nho - Phật khi dùng các chuẩn mực đạo đức Nho giáo (hiếu, tiết, nghĩa) làm “phương tiện thiện xảo” để hoằng dương tư tưởng từ bi, chúng sinh bình đẳng của Phật giáo. Lời dẫn không chỉ là bằng chứng về trí tuệ mẫn tiệp của một người phụ nữ Việt Nam thời trung đại, mà hành động tự chủ tài chính để khắc ván, ấn tống kinh sách của bà còn thách thức giới hạn định kiến về sự phụ thuộc của nữ lưu thời Nguyễn trong văn hoá in ấn.
Từ khoá
Nguyễn Thị Diệu Oánhnữ lưudẫnPhật giáoNho giáoXem chi tiết bài viết ↗ -
25
Kệ phái của Thiền sư Phá Sơn Hải Minh truyền vào Việt Nam qua trường hợp Hoà thượng Bích Phong chùa Kim Tiên (Huế)
Tóm tắt
Trong một số công trình khảo cứu trước đây đã từng đề cập vị tăng có đạo hiệu Bích Phong, chưa rõ ngài thuộc hệ phái nào của tông Lâm Tế. Theo kết quả sưu khảo mới đây thì tìm được thêm thông tin, từ đó tìm được pháp danh đầy đủ (gồm hai chữ) của Hoà thượng Bích Phong và mở ra hướng nghiên cứu mới về sự truyền thừa của tông Lâm Tế - hệ phái Phá Sơn Hải Minh tại Việt Nam (ngoài ba kệ phái của Tổ Định Tuyết Phong, Đạo Mân Mộc Trần và Trí Bản Đột Không như lâu nay hằng được biết tới), bổ sung sử liệu về truyền thừa tông Lâm Tế tại Nam Hà thế kỷ XVII-XVIII.
Từ khoá
Phá Sơn Hải MinhBích PhongKim TiênQuang HoaXem chi tiết bài viết ↗ -
26
Di văn Lê Thánh Tông tại các địa chỉ Phật giáo và vấn đề quan hệ giữa vương quyền với Phật giáo thời Lê sơ
Tóm tắt
Bài viết nghiên cứu hệ thống di văn của vua Lê Thánh Tông (1442 - 1497) tại các địa chỉ Phật giáo trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm thơ văn, văn bia… Trên cơ sở nguồn tư liệu được khảo sát và đối chiếu, nghiên cứu phân tích mối quan hệ phức hợp giữa vương quyền và Phật giáo trong bối cảnh triều đại Lê Sơ, một thời kì mà Nho giáo được đề cao làm quốc học nhưng Phật giáo vẫn duy trì sức ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hoá và tâm linh. Kết quả phân tích cho thấy di văn của Lê Thánh Tông tại các địa chỉ Phật giáo không phản ánh thái độ đối lập hay phủ nhận mà ngược lại, thể hiện một chính sách ứng xử linh hoạt, có chọn lọc của hoàng quyền đối với Phật giáo: vừa kiểm soát và thiết lập trật tự thể chế, vừa thừa nhận và khai thác các giá trị tinh thần, văn hoá của Phật giáo phục vụ mục đích cố kết cộng đồng và củng cố quyền lực. Điều đó được thể hiện rõ qua nội dung tư tưởng, bút pháp nghệ thuật và ngữ cảnh ban phát di văn. Nghiên cứu góp phần bổ sung tư liệu lịch sử về quan hệ nhà nước và tôn giáo thời trung đại Việt Nam, đồng thời làm phong phú thêm nhận thức về tư tưởng và nhân cách văn hoá của Lê Thánh Tông, một vị vua được đánh giá là nhà thơ lớn, nhà văn hoá kiệt xuất của dân tộc.
Từ khoá
Lê Thánh Tôngdi vănPhật giáovương quyềnthời Lê Sơquan hệ nhà nước và tôn giáolịch sử tư tưởng Việt NamXem chi tiết bài viết ↗ -
27
Thử tái lập một số vị trí bị khuyết ở thế thứ các Thiền phái trong sách Thiền uyển tập anh
Tóm tắt
Bài viết tập trung khảo sát các vị trí khuyết lục trong thiền phả của ba thiền phái Vô Ngôn Thông, Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Thảo Đường được ghi chép trong các văn bản Thiền uyển tập anh hiện tồn. Trên cơ sở đối chiếu, tổng hợp các nguồn thư tịch và tư liệu Phật giáo có liên quan, bài viết đề xuất tái lập danh tính của 41 trong tổng số 63 vị trí khuyết lục, trong đó bổ sung danh tính của một số thiền sư không được các văn bản Thiền uyển tập anh hiện tồn ghi nhận. Kết quả nghiên cứu góp phần phục dựng tương đối đầy đủ thế thứ, truyền thừa của các dòng thiền, đồng thời cung cấp những thông tin mới cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo, Thiền học Việt Nam từ khởi thủy đến đầu thế kỷ XIII. Bài viết cũng lưu ý rằng các phương án tái lập cần tiếp tục được kiểm chứng bằng những nguồn tư liệu mới, song đây là những giả thuyết ít hay nhiều có cơ sở, có giá trị định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Từ khoá
Thiền uyển tập anhthiền phảVô Ngôn ThôngTỳ Ni Đa Lưu ChiThảo ĐườngXem chi tiết bài viết ↗ -
28
Di sản ván in kinh sách và bộ kinh Lăng Nghiêm tông thông tại chốn Tổ Đa Bảo
Tóm tắt
Bài viết giới thiệu mộc bản một bộ kinh lớn là kinh Lăng nghiêm kinh tông thông được khắc in ở chùa Đa Bảo, Phú Xuyên, Hà Nội. Qua các bài tựa bạt, phương danh có những thông tin về lịch sử in ấn kinh sách và truyền đăng các chùa. Ngoài ra còn giới thiệu bản quy định khắc ván dành cho thợ khắc thời đó in kèm trong sách cũng là một tài liệu bổ ích. Qua thống kê và khảo sát hiện trạng, cho thấy chùa Đa Bảo từng là trung tâm khắc in kinh sách Phật giáo lớn ở miền Bắc Việt Nam đầu thế kỷ XX, hiện còn lưu giữ 799 ván khắc thuộc nhiều bộ kinh khác nhau, trong đó bộ Lăng nghiêm kinh tông thông còn 259 ván. Nội dung các bài tựa, bài bạt và phương danh khắc in phản ánh rõ mạng lưới truyền đăng giữa các sơn môn Phật giáo như Đa Bảo, Phúc Lâm, Kim Sơn, Bồ Đề; đồng thời cung cấp tư liệu về hoạt động hoằng pháp, công đức và tổ chức san khắc kinh sách đương thời. Di sản mộc bản tại chùa Đa Bảo không chỉ có giá trị tư liệu lịch sử, văn hóa và tôn giáo mà còn phản ánh đời sống tu học sinh hoạt sơn môn.
Từ khoá
Lăng nghiêm kinh tông thôngchùa Đa Bảomộc bảnThích Thanh KhảiXem chi tiết bài viết ↗ -
29
Tìm hiểu ý nghĩa và giá trị của khoa cúng Tổ tại một số chùa ở miền Bắc Việt Nam
Tóm tắt
Khoa cúng Tổ là loại văn bản phổ biến tại các ngôi chùa cổ. Ở đó, có chứa nhiều thông tin quý về hành trạng của các vị sư Tổ đã viên tịch; thể hiện và đề cao truyền thống tôn sự trọng đạo, đạo lý uống nước nhớ nguồn, ân tình của đệ tử đối với thầy nghiệp sư; phản ánh sự ảnh hưởng của tập quán thờ cúng của người Việt đối với tín ngưỡng thờ cúng của giới tăng sĩ,… Tìm hiểu khoa cúng Tổ của một số chùa, chúng tôi muốn thưc hiện mục tiêu là tìm ra sự giống và khác nhau, ý nghĩa và giá trị nhiều mặt của một khoa cúng Tổ truyền thống của Phật giáo Đại thừa miền Bắc Việt Nam trên cơ sở đặt khoa cúng Tổ trong mối quan hệ với các văn bản cúng tế khác trong đời sống tín ngưỡng của người dân làng xã và các loại văn bản cúng tế khác trong chùa. Bài viết đưa lại cho bạn đọc thấy được một số đặc thù của khoa cúng Tổ sư so với một số văn bản thờ cúng khác trong tín ngưỡng thờ cúng dân gian vùng đồng bằng Bắc bộ.
Từ khoá
Khoa cúng Tổthầy nghiệp sưuống nước nhớ nguồnXem chi tiết bài viết ↗ -
30
Giới thiệu mộc bản Thiền môn nhật tụng tại chùa Thiền Tôn - Huế
Tóm tắt
Tại cố đô Huế, hiện có hai bộ mộc bản Thiền môn nhật tụng 禪門日誦; trong đó, bộ mộc bản tại chùa Thiền Tôn được trùng khắc vào năm thứ 13 niên hiệu Gia Long (1814), dưới sự tổ chức của Tổ Đạo Tâm Trung Hậu. Trên cơ sở khảo sát và in ấn trực tiếp, bài viết này giới thiệu về bộ mộc bản với các góc độ về niên đại, hiện trạng, cấu trúc và nội dung văn bản, đồng thời xem xét vị trí của bản kinh trong lịch sử san khắc và thực hành nghi lễ Phật giáo tại Huế. Đối chiếu bước đầu với Chư kinh nhật tụng tập yếu 諸經日誦集要 để thấy được sự tương ứng về thành phần văn bản, qua đó gợi mở nguồn gốc và quá trình tiếp nhận văn bản nghi lễ Phật giáo từ Trung Hoa vào Việt Nam. So sánh với bộ mộc bản Thiền môn nhật tụng chùa Từ Hiếu, được tái khắc năm 1898, cho thấy những biến đổi về thành phần khoa mục, dung lượng và cấu trúc văn bản trong quá trình lưu truyền. Qua đó, nghiên cứu góp phần nhận diện sự vận động của văn bản nghi lễ Phật giáo tại Huế trong khoảng từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, đồng thời khẳng định giá trị của mộc bản chùa Thiền Tôn như một nguồn tư liệu gốc đối với nghiên cứu văn bản học Hán Nôm, lịch sử san khắc, truyền bản và thực hành Phật giáo.
Từ khoá
mộc bảnThiền môn nhật tụngchùa Thiền TônHuếXem chi tiết bài viết ↗ -
31
Giới thiệu khoa cúng Tổ Cúng Thuỷ Nguyệt Tổ khoa
Tóm tắt
Bài viết này là một nghiên cứu giới thiệu về Khoa cúng Tổ Cúng Thuỷ Nguyệt Tổ khoa. Bài viết sử dụng các phương pháp văn bản học, thống kê, hiệu khám học, niên đại học để nghiên cứu. Kết quả cho thấy, văn bản Cúng Thuỷ Nguyệt Tổ khoa là một văn bản được viết bằng chữ Hán, tình trạng văn bản còn nguyên vẹn cả về hình thức lẫn nội dung. Có thể nói, đây không chỉ là một văn bản nghi lễ phục vụ sinh hoạt Phật giáo mà còn là nguồn tư liệu phản ánh lịch sử truyền thừa của sơn môn.
Từ khoá
Sơn môncúng TổPhật giáoXem chi tiết bài viết ↗ -
32
Khoa cúng Tổ dưới góc nhìn di sản tư liệu Phật giáo: Qua trường hợp Côn Sơn cúng Thánh tổ Tam vị khoa và Côn Sơn cúng Đệ Tam Thánh Tổ khoa
Tóm tắt
Bài viết tiếp cận khoa cúng Tổ như một loại hình di sản tư liệu Phật giáo, thông qua khảo sát hai văn bản tiêu biểu là Côn Sơn cúng Thánh Tổ Tam vị khoa và Côn Sơn cúng Đệ tam Thánh Tổ khoa. Đây là hai khoa nghi có nguồn gốc từ chùa Côn Sơn Thiên Tư Phúc tự, gắn với truyền thống phụng thờ Tam Tổ Trúc Lâm, trong đó nổi bật là Đệ tam Tổ Huyền Quang. Trên cơ sở khảo tả văn bản, phân tích cấu trúc nghi lễ và nhận diện đặc điểm văn thể, bài viết làm rõ vị trí của khoa cúng Tổ trong đời sống Phật giáo miền Bắc. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các văn bản này không chỉ là bản hướng dẫn hành trì nghi lễ, mà còn là nguồn tư liệu quan trọng phản ánh lịch sử tông phong, truyền thống pháp phái, ký ức sơn môn và phương thức kiến tạo hình tượng Tổ sư. Về cấu trúc, hai khoa cúng đều được tổ chức theo trình tự gồm các nghi thức trước cung thỉnh, các đường cung thỉnh và các nghi thức sau cung thỉnh; đồng thời kết hợp nhiều hình thức diễn ngôn như văn biền ngẫu, thơ Đường luật, chân ngôn, tán tụng và sớ văn. Qua đó, bài viết chỉ ra sự dung hợp giữa tư tưởng Phật giáo, mô thức lễ nghi Nho giáo và văn hoá nghi lễ bản địa, đồng thời khẳng định giá trị văn học, âm nhạc tán tụng và thực hành tín ngưỡng của khoa cúng Tổ. Từ trường hợp Côn Sơn, nghiên cứu góp phần nhận diện khoa cúng Tổ như một bộ phận quan trọng trong hệ thống di sản tư liệu Phật giáo Việt Nam.
Xem chi tiết bài viết ↗ -
33
Giới thiệu bộ sách Ngũ đăng hội nguyên được khắc in tại Việt Nam
Tóm tắt
Bài viết tập trung khảo sát và giới thiệu bộ sách Ngũ đăng hội nguyên ‒ một tác phẩm quan trọng của Thiền tông Trung Hoa ‒ được san khắc tại Việt Nam trong khoảng thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX. Thông qua việc khảo sát và đối chiếu văn bản, các tác giả đã cố gắng tái hiện một tiến trình san khắc bộ sách bền bỉ kéo dài trong khoảng 70 năm (1746 – 1816). Kết quả nghiên cứu không chỉ góp thêm dữ liệu về lịch sử khắc in kinh điển tại Việt Nam thời trung đại, mà còn giúp khẳng định thêm về sự giao thoa văn hoá, tư tưởng sâu sắc của Phật giáo ở vùng Đông Á.
Từ khoá
Khắc in kinh điểnNgũ đăng hội nguyênTính DượcHải QuýnhTịch TruyềnXem chi tiết bài viết ↗ -
34
Giới thiệu tác giả và văn bản Tông kính yếu ngữ lục diễn nghĩa
Tóm tắt
Bài viết tập trung nghiên cứu hai vấn đề: (1) phác dựng tiểu sử và hành trạng Hòa thượng Thích Từ Phong (1864 – 1939) – một danh tăng tiên phong trong phong trào chấn hưng Phật giáo Nam Kỳ đầu thế kỷ XX; (2) mô tả diện mạo văn bản học tác phẩm Tông Kính yếu ngữ lục diễn nghĩa và bước đầu xác định phương thức tiếp nhận Tông Kính ục trong công trình này. Trên cơ sở các nguồn tư liệu sơ cấp gồm tạp chí Từ Bi Âm, Duy Tâm Phật Học số 35 (1939), Lược Ước tùng sao và bản thân văn bản Tông Kính yếu ngữ lục diễn nghĩa (ký hiệu HQPĐTS-042, Thư viện Huệ Quang), bài viết làm rõ vai trò của Hòa thượng Từ Phong trong các hoạt động tổ chức, giáo dục và trước tác Phật học; đồng thời phân tích đặc điểm hình thức, cấu trúc nội dung và phương thức biên soạn của văn bản. Kết quả nghiên cứu cho thấy Tông Kính yếu ngữ lục diễn nghĩa không phải bản dịch kinh điển thông thường mà là công trình sáng tác – diễn nghĩa mang tính giáo hóa, tiêu biểu cho dòng văn học Phật giáo thông tục Nam Bộ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX.
Từ khoá
Thích Từ PhongTông Kính yếu ngữ lục diễn nghĩaVăn bản họcVăn hiến Phật giáoXem chi tiết bài viết ↗ -
35
Sơ bộ khảo sát văn bản Trần triều dật tồn Phật điển lục
Tóm tắt
Trần triều dật tồn Phật điển lục là tập thứ sáu trong bộ Việt Nam Phật điển tùng san, được Tổng Hội Phật giáo Bắc Kỳ tổ chức phát hành năm 1943 với sự hỗ trợ của Viện Viễn Đông Bác Cổ (Hà Nội). Tập sách gồm bốn văn bản và nội dung liên quan đến thiền phái Trúc Lâm, đó là Thượng Sĩ ngữ lục, Tam Tổ thực lục, Thiền đạo yếu học và Bản hạnh ngữ lục. Sách được in từ các bộ ván do chùa Pháp Vũ tổ chức san khắc, về cơ bản kế thừa hệ thống văn bản từ thời Thành Thái, lưu giữ nhiều dấu vết kiểm hiệu và dị văn liên quan đến các bản được khắc in trước đó. Bài viết khẳng định giá trị của Trần triều dật tồn Phật điển lục không chỉ nằm ở việc bảo tồn nội dung các trước tác Thiền học liên quan, mà còn ở lớp thông tin văn bản học được lưu giữ thông qua các dấu vết kiểm hiệu. Kết quả khảo sát này cung cấp thêm cứ liệu về mối quan hệ giữa các truyền bản, nhận diện những dị văn từng tồn tại trong các bản trước, góp phần phục dựng lịch sử lưu truyền, san khắc và hiệu chỉnh của các văn bản thuộc hệ thống thư tịch Trúc Lâm.
Từ khoá
Trần triều dật tồn Phật điển lụcThượng Sĩ ngữ lụcTam Tổ thực lụcThiền đạo yếu họcBản hạnh ngữ lụcXem chi tiết bài viết ↗ -
36
Qua văn bia Phật giáo thế kỷ XVII – XVIII hiểu thêm về những di tích Phật giáo thời Lý - Trần trên địa bàn phía đông nam của tỉnh Bắc Ninh (hiện nay)
Tóm tắt
Bài tham luận đi sâu khai thác nguồn sử liệu từ những văn bia Phật giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (cũ) nằm trong khung niên đại thế kỷ XVII - XVIII. Nghĩa là, phạm vi địa lý nghiên cứu nằm trong khoảng các huyện/thị bao gồm: Thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, địa bàn các huyện Tiên Du, Từ Sơn, Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ cũ (bao gồm các xã/phường thuộc phía Đông Nam tỉnh Bắc Ninh hiện nay; không bao gồm địa bàn của tỉnh Bắc Giang (cũ)). Niên đại văn bia khảo sát thuộc thế kỷ XVII - XVIII (chủ yếu từ nguồn tư liệu thác bản văn bia do Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) sưu tầm từ đầu thế kỷ XX, kết hợp với kết quả điền dã của tác giả trong thời gian gần đây). Những nguồn sử liệu văn bia này cung cấp nguồn thông tin khá tin cậy để hiểu thêm về những di tích Phật giáo, danh lam cổ tự thời Lý - Trần (và thời Lê sơ), như quá trình hình thành, xây dựng, trùng tu,… trên khu vực này. Những sử liệu từ văn bia Phật giáo (phạm vi khu vực phía Đông Nam) của tỉnh Bắc Ninh, được coi là những “tấm gương soi”, là “ảnh xạ” để hiểu hơn về tình hình Phật giáo nói chung và các di tích Phật giáo thời Lý - Trần ở khu vực này. Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế phát triển rất nhanh và mạnh như hiện nay, sau khi sân bay quốc tế Gia Bình được hình thành và đi vào hoạt động, kinh tế xã hội cùng với làng, xã và cơ sở vật chất hạ tầng có sự thay đổi lớn. Sự kiện có tính chất quốc gia và quốc tế đó cũng có tác động không nhỏ đến các di tích và danh lam cổ tự của rất nhiều xã lân cận thuộc tỉnh Bắc Ninh. Dưới giác độ của các nhà khoa học và nhà quản lý văn hoá, đây vừa là điều kiện thuận lợi, cũng là những thách thức lớn đối với di tích Phật giáo nói riêng và ngành văn hoá của tỉnh nói chung. Tham luận này cũng bước đầu đề xuất những ý tưởng, giải pháp cụ thể trước sự đổi thay đó.
Từ khoá
Văn bia Phật giáo tỉnh Bắc Ninh thế kỷ XVII - XVIIIphía Đông Nam tỉnh Bắc NinhPhật giáo thời Lý - TrầnXem chi tiết bài viết ↗ -
37
Những yếu tố bạch thoại thời kỳ đầu trong ngôn ngữ của ngữ lục Thiền tông thời Lý - Trần
Tóm tắt
Ba tác phẩm tiêu biểu của Ngữ lục Thiền tông thời Lý - Trần: Thiền uyển tập anh ngữ lục, Thượng Sĩ ngữ lục và Thánh đăng ngữ lục là những văn bản có giá trị văn hiến lớn, chịu sự quy định chặt chẽ của thể tài này về cả nội dung và hình thức. Trong đó, ngôn ngữ, đặc biệt là những yếu tố bạch thoại thời kỳ đầu, đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển tải tư tưởng Phật giáo của các Thiền sư Đại Việt. Bài viết khảo sát những yếu tố bạch thoại thời kỳ đầu trong ngôn ngữ của ba tác phẩm này trên hai bình diện: từ vựng (từ đa âm tiết, nét nghĩa mới của một số từ) và ngữ pháp (danh từ và thành phần bổ trợ, đại từ, động từ và thành phần bổ trợ). Kết quả cho thấy các tác phẩm ngữ lục Thiền tông thời Lý - Trần đã sử dụng nhiều yếu tố từ vựng - ngữ pháp đặc trưng của bạch thoại thời kỳ đầu (Đường - Tống), tạo nên một lớp ngôn ngữ linh hoạt, sinh động, khác biệt rõ rệt so với văn ngôn truyền thống, qua đó góp phần làm cho các cuộc vấn đáp Thiền học trở nên tự nhiên, gần gũi và hỗ trợ hiệu quả cho việc hoằng dương Phật pháp.
Từ khoá
Ngữ lục Thiền tôngNgữ lục Thiền tông thời Lý - Trầnbạch thoại thời kỳ đầutừ vựngngữ phápXem chi tiết bài viết ↗ -
38
Giới thiệu thiên Biện thiên - Tính - Mệnh giải hoặc trong văn bản Địa tạng kinh yếu giải của Thiền sư Pháp Chuyên
Tóm tắt
Bài viết bước đầu giới thiệu khái quát về tiểu sử Thiền sư Pháp Chuyên và thiên Biện Thiên - Tính - Mệnh giải hoặc trong văn bản Địa Tạng kinh yếu giải. Đồng thời, nghiên cứu tiến hành khảo sát văn bản, chế bản chữ Hán và dịch chú toàn bộ thiên luận này. Từ kết quả xử lý tư liệu, bài viết tập trung phân tích những giá trị nội dung nổi bật của thiên luận, qua đó làm sáng tỏ lập trường tư tưởng của tác giả trong bối cảnh đối thoại với các Nho sĩ đương thời. Trên tinh thần dung hội Nho-Phật, thiên luận của Thiền sư Pháp Chuyên đã biện giải minh bạch về các phạm trù Thiên - Tính - Mệnh, phê phán quan điểm định mệnh, khẳng định bản tính thanh tịnh và đề cao vai trò tu dưỡng trong việc chuyển hoá vận mệnh. Kết quả nghiên cứu góp phần xác định tư tưởng của một học giả Phật giáo có vai trò quan trọng trong quá trình chú giải kinh điển, bản địa hoá tư tưởng và dung hoà các truyền thống triết học tại Việt Nam vào thế kỷ XVIII.
Từ khoá
Thiền sư Pháp ChuyênThiên - Tính - MệnhĐịa Tạng kinh yếu giảidung hội Nho-PhậtXem chi tiết bài viết ↗ -
39
Tác phẩm Lược ước tùng sao trong dòng chảy của văn học Phật giáo xứ Huế
Tóm tắt
Lược Ước tùng sao là tác phẩm được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, hiện được lưu trữ tại Tổ đình Tra Am phường An Cựu thành phố Huế. Tác phẩm không chỉ ghi lại những trước tác của Thiền sư Viên Thành, một vị xuất thân dòng dõi triều Nguyễn, mà còn có tác phẩm của các bậc quan lại, Nho sĩ trí thức triều Nguyễn như Nguyễn Khoa Tân, Nguyễn Tiêu Đẩu, Nguyễn Khoa Thanh Chi, Nguyễn Cao Tiêu, Đạm Phương… Bài viết giới thiệu về văn bản Lược Ước tùng sao, vấn đề lưu trữ văn bản, dịch thuật và nội dung cơ bản của tác phẩm. Qua đó thấy vị trí của tác phẩm trong dòng chảy của văn học Phật giáo xứ Huế.
Từ khoá
Lược Ước tùng saoThiền sư Viên ThànhXứ HuếVăn học Phật giáoXem chi tiết bài viết ↗ -
40
Giới thiệu bài tựa trong văn bản Thụ giới các tiết của Thiền sư Thanh Lãng - Khoan Dực
Tóm tắt
Bài viết khảo sát bài Thụ giới tự 受戒序 trong Thụ giới các tiết 受戒各節, một văn bản về giới luật và nghi thức truyền giới do Thiền sư Thanh Lãng - Khoan Dực (1738 1814) biên soạn, khảo đính. Trên cơ sở khảo sát hai quyển hiện tồn, kết hợp phiên dịch, chú giải và phân tích bài tựa, nghiên cứu bước đầu xác định đặc điểm văn bản, phạm vi nội dung và một số vấn đề liên quan đến quá trình lưu truyền của tác phẩm. Kết quả cho thấy Thụ giới tự không chỉ cung cấp những thông tin quan trọng về mục đích và phương thức biên soạn Thụ giới các tiết, mà còn phản ánh quan niệm về giới luật, ý thức khảo đính nghi thức truyền giới và nhận thức về truyền thừa Luật học của tác giả. Đáng chú ý, việc nhận diện thêm một quyển hiện tồn đã bổ sung đáng kể diện mạo của Thụ giới các tiết, qua đó cung cấp thêm tư liệu cho nghiên cứu giới luật, hoạt động truyền giới và thư tịch Hán Nôm Phật giáo Việt Nam cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX.
Từ khoá
Thụ giới các tiếtThụ giới tựThanh Lãng - Khoan Dựcgiới luậttruyền giớiHán Nôm Phật giáoXem chi tiết bài viết ↗ -
41
Hai bài tựa và quá trình hình thành văn bản Hoằng giới đại học chi thư
Tóm tắt
Hoằng giới Đại học chi thư là một nghi quỹ truyền giới có giá trị trong nghiên cứu văn bản Hán Nôm và lịch sử Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên, hai bài tựa Đại học chi thư tự《大學之書序》của Phùng Tràng Viên Tiệp và Đại học chi thư tái trị yếu tập tự《大學之 書再治要輯序》của Thiền sư Pháp Chuyên chưa được khảo sát như một đối tượng nghiên cứu độc lập dưới góc độ văn bản học. Trên cơ sở phương pháp văn bản học Hán Nôm kết hợp phân tích và đối chiếu giữa hai bài tựa với bản khắc hiện còn, bài viết làm rõ quá trình hình thành Hoằng giới Đại học chi thư qua hai giai đoạn tập thành và tái trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hai bài tựa không chỉ phản ánh động cơ trước thuật, nguyên tắc xử lý tư liệu và quá trình biên tập văn bản, mà còn có thể được kiểm chứng thông qua chính văn. Qua đó, bài viết góp phần làm sáng tỏ lịch sử hình thành Hoằng giới Đại học chi thư và khẳng định giá trị của hệ thống ngoại văn trong nghiên cứu văn bản học Hán Nôm.
Từ khoá
Hoằng giới Đại học chi thưbài tựaquá trình hình thành văn bảnvăn bản học Hán Nômnghi quỹ truyền giớiXem chi tiết bài viết ↗ -
42
Một vài đặc điểm phương thức chuyển ngữ và từ cổ trong Địa tạng kinh thích giải hoa ngôn của Hương Hải Thiền sư
Tóm tắt
Khảo sát phương thức chuyển ngữ và từ cổ trong văn bản Địa Tạng Kinh thích giải Hoa ngôn - tác phẩm dịch Nôm của Thiền sư Hương Hải. Bài viết bước đầu khảo sát và nhận diện phương pháp dịch Nôm, thống kê những từ cổ trong văn bản. Kết quả khảo sát cho thấy, phương thức dịch Nôm được Hương Hải sử dụng là phương thức giải âm, cách dịch là song hàng đối dịch. Từ cổ trong văn bản tuy có số lượng khiêm tốn nhưng vẫn bảo lưu được những từ cổ giai đoạn thời Lê. Cho thấy giá trị của văn bản không chỉ trong việc truyền bá tư tưởng Phật giáo, mà còn là cứ liệu quan trọng để tìm hiểu diện mạo tiếng Việt và phương pháp chuyển ngữ Hán - Nôm của Thiền sư Hương Hải. Đồng thời, thể hiện vai trò của Thiền sư Hương Hải trong việc truyền bá tư tưởng Phật học và nỗ lực bình dân hóa tri thức Phật giáo thông qua ngôn ngữ dân tộc.
Từ khoá
Từ cổĐịa Tạng kinh thích giải Hoa ngônThiền sư Minh Châu Hương HảiChữ NômPhương thức chuyển ngữXem chi tiết bài viết ↗ -
43
Nghiên cứu câu giả thiết trong Thiền uyển tập anh
Tóm tắt
Bài viết nghiên cứu về câu giả thiết trong Thiền uyển tập anh (TUTA) trên cơ sở khảo sát tác phẩm thuộc văn bản TUTA mang ký hiệu VHv.1267. Các trường hợp câu giả thiết theo kết quả khảo sát gồm 55 trường hợp. Các câu giả thiết trong TUTA có thể chia thành hai loại gồm câu giả thiết có sử dụng liên từ giả thiết tại vế phụ (39 trường hợp, chiếm 71%) và câu giả thiết không sử dụng liên từ giả thiết tại vế phụ (16 trường hợp, chiếm 29%). Câu giả thiết trong TUTA giữ vai trờ quan trọng trong việc truyền đạt những tư tưởng Phật giáo, đặc biệt những câu giả thiết phản ánh suy luận nhấn mạnh vào suy luận bác bỏ nhận thức sai lầm và khẳng định nhận thức đúng. Loại câu này trong TUTA còn truyền đạt mối tương quan mang tính nhân quả trong quá trình tu tập nhằm hướng người tu hành đến con đường đạt đạo. Hơn nữa, đặc điểm đa dạng các kiểu cú pháp của câu giả thiết và liên từ giả thiết trong câu giả thiết đã góp phần thể hiện sự phát triển của Hán văn Việt Nam giai đoạn trước thế kỷ XV.
Từ khoá
Thiền uyển tập anhngữ lụccâu giả thiếtliên từ giả thiếtXem chi tiết bài viết ↗ -
44
Tháp mộ Hoà thượng Vĩnh Gia
Tóm tắt
Tháp mộ Hoà thượng Vĩnh Gia tại chùa Phước Lâm là công trình tiêu biểu về kiến trúc tháp mộ Phật giáo ở Hội An. Tháp được tạo dựng năm 1918 để tưởng niệm Hoà thượng Vĩnh Gia – vị cao tăng có công lớn trong việc trùng hưng chùa Phước Lâm, đào tạo tăng tài và hoằng truyền chính pháp. Ngôi tháp nổi bật với hoạ tiết trang trí tinh xảo cùng hệ thống văn bia quý, đặc biệt là bi ký ghi lại hành trạng và công đức của ngài. Trải qua nhiều biến động thời cuộc, ngôi tháp vẫn được bảo tồn tốt, trở thành minh chứng cho những đóng góp to lớn của Hoà thượng Vĩnh Gia đối với Phật giáo Hội An, Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng) và là một di sản kiến trúc đặc sắc của địa phương.
Từ khoá
Vĩnh GiaPhước Lâmbi kýXem chi tiết bài viết ↗ -
45
“Chính niệm” (H. 正念, P. Sammā-sati) trong văn bản Phật học phổ thông tiếng Việt: Phân tích dịch thuật và ngữ cảnh kinh điển
Tóm tắt
Sự phổ biến hoá khái niệm sammā-sati trong diễn ngôn Phật học đại chúng đương đại đặt ra một thách thức học thuật đáng chú ý: khoảng cách ngày càng mở rộng giữa nội hàm kinh điển của thuật ngữ và cách tiếp nhận trong văn bản phổ thông. Tại Việt Nam, hiện tượng này biểu hiện rõ qua xu hướng đồng nhất “chính niệm” (正念) với mindfulness theo nghĩa tâm lý học đương đại - tức chú ý thuần túy hoặc điều hoà cảm xúc - trong khi truyền thống Pali và Hán-Việt xác định đây là tỉnh giác đúng đắn trong hệ thống Bát chính đạo, không thể tách rời khỏi cấu trúc Tứ niệm xứ (Satipaṭṭhāna Sutta). Phân tích chỉ ra ba khuynh hướng dịch thuật: (1) giản lược thành trạng thái chú ý tâm lý; (2) tách rời ngữ cảnh Tứ niệm xứ; (3) ảnh hưởng dịch Anh-Việt hiện đại hoá. Từ đó, bài viết đề xuất giữ ổn định, bảo tồn thuật ngữ Hán-Việt, bổ sung phiên âm Pali, chú thích kinh điển, phân biệt rõ với mindfulness thế tục. Qua đó, bài viết góp phần bàn thêm về vấn đề tiếp nhận, dịch thuật và bảo tồn giá trị văn bản Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh người trẻ tìm đến Phật học ngày càng nhiều.
Từ khoá
chính niệmsammā-satiSatipaṭṭhāna Suttadịch thuật Phật họcđộc giả trẻXem chi tiết bài viết ↗
-
46
Tiếp nhận và chuyển hoá nguồn dẫn trong Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục
Tóm tắt
Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Thiền học Đại Việt thời Trần, phản ánh sự phát triển của tư tưởng Thiền tông trên nền tảng tiếp thu và sáng tạo từ truyền thống Phật giáo Trung Hoa. Mặc dù đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ như triết học, tư tưởng, văn học và lịch sử Thiền tông, hệ thống nguồn dẫn và cơ chế tiếp nhận văn bản trong tác phẩm vẫn chưa được khảo sát một cách toàn diện. Trên cơ sở vận dụng phương pháp văn bản học kết hợp với lý thuyết liên văn bản, bài viết tiến hành khảo sát toàn bộ các trường hợp nguồn dẫn trong Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục nhằm làm rõ đặc điểm tiếp nhận và quá trình chuyển hoá các văn bản tiền nhiệm trong diễn ngôn Thiền của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Thông qua phương pháp đối chiếu văn bản, thống kê và phân loại, bài viết xác định năm hình thức tiếp nhận chủ yếu gồm: dẫn nguyên văn, dẫn công án, dẫn Thiền ngữ, dẫn ý và cải biên sáng tạo. Đồng thời, các nguồn tiếp nhận được quy về bốn nhóm chính: kinh điển Phật giáo, ngữ lục Thiền tông, văn học cổ điển Trung Quốc và tư tưởng Đạo gia. Kết quả khảo sát cho thấy ngữ lục Thiền tông là nguồn tiếp nhận quan trọng nhất, giữ vai trò trung tâm trong việc hình thành cơ phong, ngôn ngữ và phương thức diễn đạt của tác phẩm; kinh điển Đại thừa là nền tảng giáo nghĩa; còn văn học Trung Quốc và Đạo gia chủ yếu bổ sung thi liệu, hình tượng và phương thức biểu đạt. Trên cơ sở đó, bài viết tiếp tục phân tích cơ chế vận dụng và chuyển hoá nguồn dẫn trong Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục qua hai phương diện: chức năng của nguồn dẫn trong diễn ngôn Thiền và mức độ chuyển hoá văn bản. Các nguồn dẫn không chỉ có chức năng xác lập tính chính thống của diễn ngôn, kiến tạo tình huống công án, hình thành hệ thống biểu tượng Thiền và gia tăng tính thi ca của văn bản, mà còn trải qua nhiều cấp độ chuyển hoá, từ trích dẫn nguyên văn đến tái cấu trúc và sáng tạo lại trong một ngữ cảnh mới. Quá trình tái ngữ cảnh hoá này cho thấy Tuệ Trung không tiếp nhận truyền thống theo lối sao chép, mà chủ động lựa chọn, chuyển hoá và kiến tạo lại các nguồn tư liệu để phục vụ cho mục đích khai thị và giáo hoá. Từ kết quả khảo sát, bài viết không chỉ đề xuất một mô hình nghiên cứu nguồn dẫn trong văn bản Thiền học dựa trên ba phương diện: hình thức tiếp nhận, nguồn tiếp nhận và cơ chế vận dụng - chuyển hoá, mà còn cho thấy tác phẩm Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục đã xây dựng một phương pháp tiếp nhận mang tính chủ động, lấy Thiền tông làm trục trung tâm, lấy công án làm phương tiện khai thị, đồng thời chuyển hoá kinh điển, Thiền ngữ và thi liệu thành một diễn ngôn Thiền mang bản sắc riêng. Cách tiếp cận này không chỉ góp phần làm sáng tỏ đặc điểm liên văn bản của Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục, mà còn khẳng định vai trò sáng tạo của Tuệ Trung Thượng Sĩ trong quá trình tiếp biến truyền thống Thiền học Trung Hoa, qua đó góp phần hình thành bản sắc riêng của Thiền học Trúc Lâm và Phật giáo Đại Việt thế kỷ XIII.
Từ khoá
Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lụcnguồn dẫnliên văn bảnvăn bản họcThiền tôngThiền học Trúc LâmXem chi tiết bài viết ↗ -
47
Tác phẩm Mâu Tử lý hoặc luận và vị trí trong lịch sử Phật giáo Việt Nam
Tóm tắt
Mâu Tử Lý hoặc luận 牟子理惑論 từ lâu được nhiều người xem là trước tác Phật học đầu tiên do người Hán viết bằng Hán văn, được xếp đứng đầu bộ Hoằng minh tập 弘明集 của Tăng Hựu đời Lương. Suốt hơn bốn thế kỷ, giới học thuật tranh luận không dứt về tính chân - nguỵ của văn bản này, đồng thời dần nhận ra một sự thật ít được chú ý là tác giả, theo đúng lời tự thuật là người quận Thương Ngô 蒼梧, từng “đem mẹ lánh loạn sang đất Giao Chỉ 交趾” , soạn sách trong bối cảnh văn hoá Giao Châu thời Hán mạt, mà trị sở Giao Chỉ khi ấy nằm ngay trên đất Việt Nam ngày nay. Bài viết lược thuật lịch sử ra đời tác phẩm và giới thiệu vị trí của tác phẩm này trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Chúng tôi cho rằng Lý hoặc luận không chỉ là văn bản mở đầu Phật giáo Hán truyền, mà còn là chứng tích văn tự sớm nhất phản ánh sự cộng sinh Nho - Phật Đạo trên đất Giao Châu, một điển tịch có quan hệ mật thiết với lịch sử Phật giáo Việt Nam thời kỳ đầu.
Từ khoá
Mâu Tử Lý hoặc luậnchân nguỵGiao ChỉThương NgôPhật giáo sơ truyềnHoằng minh tậpXem chi tiết bài viết ↗ -
48
Triết lý nhập thế và mỹ cảm giải thoát trong Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông
Tóm tắt
Bài viết khảo sát Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông như một điển tịch Phật giáo bằng chữ Nôm tiêu biểu của thời Trần, đồng thời như một văn bản kết tinh triết lý nhập thế và mỹ cảm giải thoát của Thiền học Trúc Lâm. Trên cơ sở bản văn trong Thơ văn Lý - Trần, tập II, quyển thượng, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989 cùng các lớp khảo đính dị bản và chú giải liên quan đến Thiền tông bản hạnh, bài viết vận dụng văn bản học, thông diễn học Phật giáo và phân tích mỹ học Thiền để làm rõ cấu trúc tư tưởng của tác phẩm. Luận điểm trung tâm được xác lập là: Cư trần lạc đạo phú không kiến tạo giải thoát bằng sự thoát ly thế giới, mà bằng một cách hiện hữu khác ngay trong thế giới: cư trần mà không trần luỵ, tuỳ duyên mà không buông xuôi, vô tâm mà không vô cảm. Qua các phạm trù tự tâm, tịnh độ, tính không, vô chấp và vô tâm, văn bản chuyển hoá giáo lý Phật giáo Đại thừa thành kinh nghiệm sống cụ thể, thanh giản và khả hành. Từ đó, bài viết khẳng định Cư trần lạc đạo phú là một văn bản triết - mỹ đặc sắc, đồng thời là một di sản tri thức của Phật giáo Việt Nam.
Từ khoá
Cư trần lạc đạo phúTrần Nhân TôngThiền Trúc Lâmtriết lý nhập thếmỹ cảm giải thoátXem chi tiết bài viết ↗ -
49
Khảo cứu tư liệu liên quan đến những ngôi tháp thời Trần chứa xá lỵ các Thiền sư Thiền phái Trúc Lâm quanh khu vực di sản thế giới Quần thể danh thắng Tràng An - Ninh Bình
Tóm tắt
Bài viết trình bày kết quả khảo cứu hai văn bia là Dục Thuý Sơn Linh Tế tháp ký của danh nhân Trương Hán Siêu khắc trên vách núi Non Nước và Tiên Long sơn Kim Cương tự Hiển Diệu tháp bi văn tính tự của Cung Tĩnh Đại vương Trần Nguyên Trác khắc trên vách núi Tiên Long. Hai văn bia đều mô tả về việc dựng chùa - tháp Phật giáo và nhắc đến việc đặt xá lợi trong mỗi ngôi tháp. Khảo cứu cho phép xác định rõ tính chất tháp thờ đặt xá lợi của các vị thiền sư đầu tiên thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ở các địa điểm dựng bia. Đồng thời, qua nghiên cứu so sánh văn bản học và tổng hợp tư liệu khảo cổ về hệ thống phế tích tháp thời Trần; tác giả bài viết cho rằng xá lợi của Phật hoàng Trần Nhân Tổng, Nhị Tổ Pháp Loa và Thiền sư Trí Nhu được đặt trong những ngôi tháp trên núi Non Nước, núi Tiên Long và núi Ghềnh Tháp trong phạm vi Quần thể Danh thắng Tràng An.
Từ khoá
văn bia thời Trần ở Tràng Antháp Phật giáo thời Trần ở Ninh BìnhPhật giáo Trúc Lâm Ninh BìnhXem chi tiết bài viết ↗ -
50
Thiền sư Thanh Cao (1835 - 1894) và những đóng góp đối với phái Tào Động cuối thế kỷ XIX
Tóm tắt
Thiền sư Thanh Cao (1835 - 1894), pháp danh Sinh Định, pháp tự Thanh Cao, là một trong những cao tăng tiêu biểu của thiền phái Tào Động ở Bắc Bộ cuối thế kỷ XIX. Trên cơ sở các tư liệu Hán Nôm hiện còn tại chùa Linh Sơn Đại Tráng, chùa Đồng Nhân cùng các văn bản như Thanh Cao Tổ sư khoa, Như Tây nhật ký, hệ thống mộc bản và văn bia liên quan, bài viết tập trung khảo cứu hành trạng, sự nghiệp hoằng pháp và những đóng góp của Thiền sư Thanh Cao đối với sự phát triển của Phật giáo vùng Kinh Bắc xưa. Kết quả nghiên cứu cho thấy Thiền sư không chỉ là người kế thừa, phát triển pháp mạch Tào Động Nam truyền mà còn là nhà giáo dục Phật giáo, nhà tổ chức hoạt động khắc in kinh sách, xây dựng hệ thống tự viện và thúc đẩy giao lưu văn hoá Phật giáo trong nước cũng như quốc tế. Những đóng góp của Thiền sư đã phản ánh rõ nét tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX.
Từ khoá
Thanh CaoTào ĐộngLinh SơnĐồng NhânPhật giáo Kinh BắcXem chi tiết bài viết ↗ -
51
Quá trình du nhập và triển khai Đại tạng kinh vào Đại Việt dưới thời Tiền Lê - Lý
Tóm tắt
Từ thế kỷ X đến thế kỷ XI, Đại Việt dưới thời hai vương triều Tiền Lê và Lý đã tám lần thỉnh thành công Đại Tạng Kinh từ nhà Tống. Mặc dù đây là những sự kiện quan trọng trong lịch sử Phật giáo Đông Á, đến nay vẫn tồn tại nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ, như niên đại chính xác của lần thỉnh kinh đầu tiên, phiên bản cụ thể của từng bộ Đại Tạng Kinh được đưa về nước, cũng như quá trình triển khai Đại Tạng Kinh tại Đại Việt. Trên cơ sở đối chiếu các nguồn sử liệu Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản, bài viết lần đầu tiên khảo cứu một cách hệ thống quá trình du nhập từng bộ Đại Tạng Kinh, bao gồm bối cảnh ngoại giao, thành phần sứ đoàn và lộ trình giao thông. Bên cạnh đó, bài viết cũng xác định phiên bản (Hàm Bình Tu Đính Bản, Thiên Hi Tu Đính Bản, Hi Ninh Tu Đính Bản) của các bộ Đại Tạng Kinh được đưa về nước, đồng thời làm rõ quá trình “nội địa hóa” Đại Tạng Kinh tại Đại Việt, tiêu biểu như chế tạo Chuyển Luân Kinh Tàng hình bát giác để lưu giữ kinh điển và hoạt động sao chép nhân bản Đại Tạng Kinh.
Từ khoá
Đại Tạng KinhKhai Bảo Tạngnhà Tiền Lênhà Lýnhà Tốngngoại giao Đông ÁXem chi tiết bài viết ↗ -
52
Tiến trình phát triển của tư duy Phật giáo bằng tiếng Việt qua hoạt động diễn Nôm kinh điển Phật giáo
Tóm tắt
Bài tham luận tập trung nghiên cứu hiện tượng diễn Nôm và giải âm kinh điển Phật giáo trong tiến trình hình thành và phát triển tư duy Phật giáo bằng tiếng Việt. Hoạt động này không chỉ đơn thuần là một thao tác chuyển dịch ngôn ngữ văn tự từ Hán sang Nôm, mà là một chuyển biến mang tính bước ngoặt trong tiến trình hình thành tư duy Phật giáo bằng tiếng Việt. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành giữa Văn bản học Hán Nôm, Lịch sử tư tưởng Phật giáo và Ngôn ngữ học lịch sử, bài viết hệ thống hoá diện mạo thư tịch Phật giáo Việt Nam - đặc biệt là bộ phận thư tịch Phật giáo bằng chữ Nôm; làm rõ lực lượng, mục đích và cơ chế của hoạt động diễn Nôm; đồng thời khảo sát hệ thống tác phẩm tiêu biểu từ các bản dịch giải âm kinh điển (Phật thuyết Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Khoá hư lục giải nghĩa…) đến các trước tác Phật giáo trực tiếp bằng chữ Nôm (Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca…). Nghiên cứu khẳng định: hoạt động diễn Nôm trong giai đoạn này đã khởi đầu cho quá trình bản địa hoá tri thức Phật giáo, xác lập năng lực biểu đạt triết học của ngôn ngữ dân tộc và đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành truyền thống Phật điển Việt Nam (Vietnamese Buddhist Canon).
Từ khoá
Diễn NômGiải âmPhật điển Việt NamThời Lý – TrầnChữ Nôm cổTư duy Phật giáo tiếng ViệtViện Trần Nhân TôngXem chi tiết bài viết ↗ -
53
Thái uý Lý Thường Kiệt với việc phát triển Phật giáo qua nhóm văn bia thời Lý ở Thanh Hoá
Tóm tắt
Thái uý Lý Thường Kiệt không phải người khai mở Phật giáo ở Ái Châu (vùng đất tương đương với tỉnh Thanh Hoá ngày nay) nhưng trong 19 năm giữ cương vị Tổng trấn (1082 - 1101), ông đã có những đóng góp rất lớn trong sửa chữa, trùng tu chùa tháp. Lý Thường Kiệt cũng là người đã trực tiếp chỉ huy xây dựng một số công trình, kiến trúc Phật giáo trên vùng đất này. Dưới khía cạnh văn hoá - tâm linh, những hoạt động phát triển, chấn hưng đạo Phật ở châu thổ sông Mã của vị Thái uý họ Lý đã ảnh hưởng lớn đến nhu cầu tôn thờ, thụ hưởng tín ngưỡng, đời sống tinh thần của bách tính giai đoạn này. Không những thế, trong bối cảnh thời Lý, Phật giáo được sử dụng như quốc giáo thì việc trùng tu, xây mới chùa, tháp của Lý Thường Kiệt - có thể nói là phù hợp với xu thế chung của xã hội cũng như sách lược của nhà nước quân chủ đương thời.
Từ khoá
Lý Thường KiệtPhật giáoThanh Hoá thời LýXem chi tiết bài viết ↗ -
54
Hành trạng và sự nghiệp của thiền sư Chân Nguyên qua văn bia tháp Tịch Quang tại chùa Long Động và Quỳnh Lâm
Tóm tắt
Đề tài “Hành trạng và sự nghiệp của Thiền sư Chân Nguyên qua văn bia tháp Tịch Quang tại chùa Long Động và Quỳnh Lâm” tập trung khai thác giá trị tư liệu của văn bia như một nguồn sử liệu gốc quan trọng để tái hiện chân dung lịch sử và tư tưởng của Thiền sư Chân Nguyên – một nhân vật tiêu biểu trong quá trình phục hưng Phật giáo Việt Nam thời Hậu Lê. Thông qua việc phân tích nội dung văn bia, nghiên cứu làm rõ các phương diện chính trong hành trạng của ngài như quá trình tu học, hoằng pháp, cũng như vai trò kế thừa và phát triển dòng thiền Trúc Lâm. Đồng thời, văn bia tháp Tịch Quang còn phản ánh những đóng góp nổi bật của thiền sư trong việc chấn hưng Phật giáo, kết nối truyền thống thiền học thời Trần với bối cảnh lịch sử – xã hội đương thời. Qua đó, đề tài không chỉ góp phần bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII mà còn khẳng định giá trị của văn bia như một nguồn tư liệu đáng tin cậy trong việc nghiên cứu nhân vật và tư tưởng Phật giáo.
Từ khoá
Văn bia tháp Tịch QuangThiền sư Chân NguyênXem chi tiết bài viết ↗ -
55
Yếu tố Phật giáo trong Tử Chu Tử Tiểu học lược biên thông qua nội dung Thiện thư phụ lục
Tóm tắt
Tử Chu Tử Tiểu học lược biên là tác phẩm được các Nho gia Việt Nam tiết lược và biên soạn trên cơ sở sách Tiểu học của Chu Tử. Nếu như Tiểu học chủ yếu tập trung truyền bá các chuẩn mực đạo đức Nho giáo thì Tử Chu Tử Tiểu học lược biên đã bổ sung một số nội dung liên quan đến Phật giáo nhằm khuyến khích con người hướng thiện, tích đức và tu dưỡng phẩm hạnh. Trên cơ sở khảo sát các nội dung mang yếu tố Phật giáo trong tác phẩm, bài viết phân tích cách thức tiếp nhận và vận dụng tư tưởng Phật giáo của các Nho gia Việt Nam trong quá trình biên soạn. Qua đó cho thấy sự dung hợp giữa Nho giáo và Phật giáo trong tư tưởng giáo dục, đồng thời phản ánh ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tư tưởng của các Nho gia Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX.
Từ khoá
Tiểu họcTử Chu Tử Tiểu học lược biênPhật giáoNho giáoTam giáo…Xem chi tiết bài viết ↗ -
56
Phật giáo thời Lý, Trần: Di sản và giá trị
Tóm tắt
Trong tiến trình kiến thiết quốc gia, vận dụng tinh hoa Phật giáo thời Lý - Trần đóng vai trò then chốt trong việc vun đắp một xã hội thịnh vượng, hướng đến sự hùng cường. Nghiên cứu này tập trung phân tích sâu sắc di sản tri thức Phật giáo thời kỳ Lý - Trần, đồng thời làm rõ phương thức kế thừa và ứng dụng trong bối cảnh Việt Nam đương đại. Thông qua khảo sát tư tưởng, tri thức và hành trạng của các bậc triết gia, thiền sư giai đoạn này, nghiên cứu xác định các nguyên tắc và giá trị cốt lõi có khả năng ứng dụng vào các lĩnh vực then chốt như chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Bằng cách tương tác mật thiết giữa di sản văn hóa và thực tiễn hiện tại, bài viết đề xuất những giải pháp sáng tạo, nhằm định hình một tương lai phồn vinh và phát triển bền vững cho đất nước. Nhằm tăng cường sự gắn kết giữa truyền thống và đổi mới, nghiên cứu chứng minh tính khả thi và giá trị thiết thực của việc tiếp tục khai thác tri thức Phật giáo thời Lý - Trần, hướng tới mục tiêu xây dựng một xã hội hùng cường, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới. Việc làm này góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời tạo động lực cho sự phát triển toàn diện của đất nước. Di sản Phật giáo không chỉ là nguồn lực tinh thần mà còn là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững.
Từ khoá
Di sản tri thứcPhật giáo LýTrầnkế thừahiện đại hóaphát triểnViệt NamXem chi tiết bài viết ↗ -
57
Văn học Phật giáo Nam tông kinh tại Việt Nam (1938-2026)
Tóm tắt
Văn học Phật giáo Nam tông Kinh tại Việt Nam, hình thành từ năm 1938, là một hiện tượng đặc thù của Phật giáo Việt Nam hiện đại. Bài viết phân tích tiến trình phát triển của dòng văn học này qua ba phương diện chính: quá trình bản địa hóa Kinh điển Pāḷi thông qua dịch thuật và thi hóa; sự chuyển đổi từ truyền thống khẩu truyền sang hệ thống văn bản hóa; và vai trò của Tăng sĩ, cư sĩ trong việc xây dựng nền Phật học mang đặc trưng Việt Nam. Trên cơ sở kết hợp phương pháp phân tích văn bản, lịch sử - so sánh, nghiên cứu cho thấy văn học Phật giáo Nam tông Kinh tại Việt Nam không chỉ là hoạt động chuyển dịch ngôn ngữ mà còn là quá trình tái cấu trúc tri thức tôn giáo trong bối cảnh văn hóa mới. Kết quả cho thấy sự hình thành một hệ diễn ngôn vừa bảo tồn nền tảng Pāḷi truyền thống, vừa thích ứng với ngôn ngữ, văn hóa và nhu cầu nhận thức của xã hội Việt Nam hiện đại.
Từ khoá
TheravādaPāḷivăn học Phật giáobản địa hóaViệt NamXem chi tiết bài viết ↗ -
58
Giá trị đạo đức học của Pháp Cú kinh trong việc xây dựng thế giới quan cho giới trẻ Việt Nam hiện nay
Tóm tắt
Bước vào kỷ nguyên số, giới trẻ Việt Nam hiện nay đã và đang phải đối mặt với sự khủng hoảng về hệ giá trị và áp lực tâm lý. Bài viết tập trung khai thác hệ thống triết lý đạo đức trong Pháp cú kinh (Dhammapada) nhằm đề xuất giải pháp xây dựng nhân sinh quan vững vàng cho thế hệ trẻ. Thông qua phương pháp phân tích văn bản và liên hệ thực tiễn, nghiên cứu làm rõ ba nội dung cốt lõi: thứ nhất là tâm chủ thể - yếu tố giúp khơi nguồn ý thức tự làm chủ và chuyển hóa nội tại; thứ hai là không phóng dật - yếu tố giúp con người rèn luyện tính tỉnh thức, tự giác để vững vàng trước áp lực thời đại và thứ ba là quy luật nhân quả - yếu tố được coi là kim chỉ nam đạo đức giúp người trẻ nhận thức trách nhiệm cá nhân và hướng đến lối sống nhân văn, thiện lành. Trên cơ sở đánh giá thực trạng lối sống hiện nay, bài viết khẳng định triết lý trong Pháp cú kinh không chỉ dừng lại ở giáo điều tôn giáo mà còn là một hệ thống triết học thực hành sống động. Việc vận dụng những giá trị này giúp người trẻ chuyển hóa tư duy từ chỗ chạy theo ngoại cảnh sang tự quán chiếu nội tâm, thiết lập sự bình an nội tại và bản lĩnh đối diện với biến động thời đại. Đây là nguồn tư liệu quý giá trong việc định hình một lối sống trách nhiệm, tự chủ và giàu lòng nhân ái cho giới trẻ Việt Nam hiện nay.
Từ khoá
Pháp cú kinhtriết lý đạo đứcnhân sinh quangiới trẻPhật giáo Việt Nam. Nội dung bài viết thuộc Tiểu ban số 4 của Hội thảoXem chi tiết bài viết ↗ -
59
Tư tưởng “phản quan tự kỷ” trong Thiền phái Trúc Lâm qua thư tịch Hán Nôm thời Trần và ý nghĩa triết học đối với định hướng lối sống của giới trẻ hiện nay
Tóm tắt
Bài viết nghiên cứu về tư tưởng “phản quan tự kỷ” trong Thiền phái Trúc Lâm thông qua khảo sát hệ thống thư tịch Hán - Nôm thời Trần, nhằm làm rõ nội hàm triết học và khả năng đối thoại của tư tưởng này với những vấn đề của đời sống hiện đại. Trên cơ sở phân tích văn bản triết học kết hợp với phương pháp thông diễn học, nghiên cứu chỉ ra rằng phần lớn các tiếp cận trước đây về “phản quan tự kỷ” chủ yếu dừng lại ở bình diện diễn giải Thiền học hoặc lịch sử tư tưởng, trong khi việc tiếp cận khái niệm này như một phạm trù triết học vẫn chưa được triển khai một cách hệ thống. Qua khảo sát Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục, Cư trần lạc đạo phú và Khóa hư lục, bài viết cho thấy “phản quan tự kỷ” vận hành như một cấu trúc triết học ba tầng: (1) nguyên lý tự nhận thức ở bình diện nhận thức luận; (2) con đường trực nghiệm vô ngã và tính không ở bình diện bản thể luận; và (3) nền tảng của sự tự điều chỉnh hành vi ở bình diện đạo đức học. Từ đó, nghiên cứu khẳng định rằng tư tưởng này không chỉ có giá trị trong lịch sử triết học Phật giáo Việt Nam, mà còn có khả năng gợi mở những định hướng quan trọng cho giáo dục tự nhận thức, xây dựng lối sống tỉnh thức và hình thành đạo đức trách nhiệm ở giới trẻ hiện nay.
Từ khoá
phản quan tự kỷThiền phái Trúc Lâmthư tịch Hán - Nômtự nhận thứctriết học Phật giáoXem chi tiết bài viết ↗ -
60
Từ lăng kính pháp môn bất nhị nhìn lại vấn đề tư tưởng thị tài và sự dung thông tài - đức trong thơ Tuệ Trung Thượng Sĩ
Tóm tắt
Tuệ Trung Thượng sĩ (1230 - 1291) là nhà Thiền học xuất sắc của Phật giáo thời Trần đồng thời cũng là nhà thơ nổi tiếng. Tư tưởng thị tài trong thơ ông là một hiện tượng độc đáo biểu hiện qua ý thức sâu sắc về tài năng và khuynh hướng phá chấp mạnh mẽ. Tuy nhiên, nhìn từ lăng kính “pháp môn bất nhị”, hiện tượng “thị tài” này không phải là biểu hiện của bản ngã vị kỷ thế tục mà có cội nguồn sâu xa từ sự dung thông tuyệt đối giữa Tài (trí tuệ bát nhã) và Đức (tâm địa từ bi). Đã có những công trình tiếp cận tính bất nhị trong thơ Tuệ Trung nhưng nghiên cứu Tư tưởng thị tài và sự dung thông Tài-Đức trong thơ ông qua lăng kính pháp môn bất nhị là hướng đi mới. Bài viết có những đóng góp khoa học quan trọng: Giải mã phạm trù “thị tài” trong thơ Tuệ Trung dưới nhãn quan “bất nhị” của Phật giáo Đại thừa, vượt thoát khỏi định kiến nhị nguyên thông thường; Đi sâu phân tích thơ Tuệ Trung để chứng minh sự “thị tài” thực chất là phương tiện thiện xảo (Tài) chảy ra từ suối nguồn giải thoát (Đức); Khẳng định tầm vóc tư tưởng Tuệ Trung, mở ra hướng tiếp cận mang tính liên ngành giữa Phật học, Đạo học và Thẩm mỹ học đối với văn học cổ trung đại Việt Nam.
Từ khoá
Tuệ Trung Thượng sĩTư tưởng thị tàiDung thông Tài - ĐứcPháp môn bất nhịThơ thiền thời TrầnXem chi tiết bài viết ↗ -
61
Văn học Phật giáo như một pháp môn: Hành trình giác ngộ trong đời sống đương đại
Tóm tắt
Bài tham luận “Văn học Phật giáo như một pháp môn: Hành trình giác ngộ trong đời sống đương đại” tiếp cận văn học Phật giáo như một “pháp môn” - tức một con đường thực hành tâm linh có khả năng dẫn dắt con người đến sự tỉnh thức, chữa lành và chuyển hoá nội tâm. Trọng tâm của bài viết là khai thác tư liệu Hán Nôm Phật giáo như nguồn văn bản nền tảng để luận giải chiều sâu tư tưởng và giá trị thực hành của văn học, qua đó làm nổi bật vai trò của ngôn ngữ và văn tự truyền thống trong việc chuyên chở kinh nghiệm giác ngộ. Trên cơ sở phân tích và diễn giải các văn bản Hán Nôm tiêu biểu, bài viết chỉ ra rằng văn học Phật giáo không chỉ phản ánh hiện thực mà còn là phương tiện chiêm nghiệm bản thể, kiến tạo ý nghĩa sống và hướng đến giải thoát tinh thần. Trong bối cảnh đời sống đương đại đầy biến động – với áp lực công nghệ, khủng hoảng tinh thần và sự lung lay của hệ giá trị – việc đọc và tiếp nhận văn học Phật giáo có thể được xem như một hành trình giác ngộ, tương tự các thực hành như thiền định. Bên cạnh nguồn tư liệu Hán Nôm giữ vai trò trung tâm, bài viết còn kết hợp các tư liệu bổ trợ như điền dã, tư liệu văn vật và ngôn ngữ nhằm mở rộng bình diện tiếp cận và tăng cường tính liên ngành (văn học, triết học, Phật học). Qua đó, tham luận khẳng định giá trị chuyển hoá của văn học Phật giáo trong thời đại số, đồng thời gợi mở khả năng tái tiếp cận di sản Hán Nôm như một nguồn lực tinh thần thiết thực cho con người hôm nay.
Từ khoá
Văn học Phật giáotư liệu Hán Nômpháp môngiác ngộchữa lànhđời sống đương đạiXem chi tiết bài viết ↗ -
62
Hệ giá trị tư tưởng Phật giáo Trúc Lâm: Từ truyền thống đến những chuẩn mực đạo đức hiện đại
Tóm tắt
Năm 1299, vua Trần Nhân Tông vào tu ở núi Yên Tử, đồng thời hợp nhất ba dòng Thiền đương thời là Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường. Sự tích hợp tinh thần, tư tưởng của ba pháp môn này đã tạo nên tinh hoa triết lý cho một tôn giáo mang đặc tính riêng của dân tộc, đồng thời cũng bộc lộ một quan điểm tu hành mới cho nền Phật giáo nước nhà. Từ đây, Phật giáo Trúc Lâm - đứng đầu là đức Điều Ngự Giác Hoàng trở thành tôn giáo Phật giáo chính thống của quốc gia Đại Việt. Phật giáo Trúc Lâm đã đáp ứng ba vấn đề cốt yếu của thời đại là: Niềm tin Phật giáo; thực hành và cộng đồng Phật giáo2. Trong nội dung bài viết, chúng tôi tập trung khai thác hệ giá trị cơ bản về văn hoá của Phật giáo thời Trần xoay quanh ba vấn đề cốt lõi nêu trên và sự lan tỏa, tác động tích cực của nó trong đời sống văn hoá tinh thần giai đoạn hiện nay.
Từ khoá
Hệ giá trịTrúc LâmPhật giáo thời Trầnđạo đứctruyền thốngXem chi tiết bài viết ↗ -
63
Kiến trúc và mỹ thuật chùa Giác Lâm từ góc nhìn văn bản Hán Nôm
Tóm tắt
Chùa Giác Lâm (Thành phố Hồ Chí Minh) là một trong những công trình Phật giáo cổ ở vùng đất Nam Bộ, bảo lưu trọn vẹn phong cách kiến trúc và mỹ thuật truyền thống. Nghiên cứu này đề xuất một cách tiếp cận mới: giải mã giá trị di tích từ lăng kính văn bản Hán Nôm (hoành phi, câu đối, bia ký). Thông qua phương pháp phân tích ký hiệu học và hình thái học kiến trúc, bài viết chứng minh hệ thống Hán Nôm tại đây không chỉ đóng vai trò trang trí hay ghi chép đơn thuần, mà hoạt động như một “mệnh lệnh thiết kế”. Chính ngữ nghĩa và cấu trúc của chữ viết đã trực tiếp định hình cú pháp không gian, phân lập ranh giới tâm linh và ẩn chứa tư tưởng phản kháng lịch sử sâu sắc của tiền nhân.
Từ khoá
Chùa Giác Lâmvăn bản Hán Nômhình thái học kiến trúccú pháp không gianmỹ thuật Nam Bộtam giáo đồng nguyênXem chi tiết bài viết ↗ -
64
Hành trạng Thiền sư Như Trừng Lân Giác qua văn bản Cứu sinh Trịnh Thánh Tổ sự tích và văn bia Cứu sinh Trịnh tổ lục bi
Tóm tắt
Thiền sư Như Trừng Lân Giác, xuất thân là vương tôn họ Trịnh, là vị Tổ khai sáng Sơn môn Liên Phái (Liên Tông) – một tông phái quan trọng của Phật giáo Bắc Hà cuối thời Lê. Trên cơ sở khảo sát hai tư liệu quan trọng là Cứu Sinh Trịnh Thánh Tổ Sự Tích (bản chép tay năm thứ 6 niên hiệu Khải Định, 1921) và Cứu Sinh Trịnh Tổ Lục Bi (bia đá chùa Hàm Long, năm thứ 3 niên hiệu Bảo Đại, 1928), bài viết tập trung làm rõ hành trạng xuất gia, quá trình hoằng pháp, kiến tạo chùa Liên Phái, Hàm Long, Hộ Quốc cùng những đóng góp nổi bật của ngài. Việc đối chiếu hai văn bản giúp làm sáng tỏ giá trị lịch sử, văn hoá và tôn giáo của di sản Thiền sư Như Trừng trong bối cảnh Phật giáo Việt Nam thế kỷ XVIII.
Từ khoá
Như Trừng Lân GiácCứu Sinh Trịnh Thánh tổTrịnh ThậpXem chi tiết bài viết ↗ -
65
Hành trạng và tư tưởng tu hành của thiền sư Tính Cơ qua Thắng Quả tháp ký tịnh minh tại chùa Tam Thánh, Hải Phòng
Tóm tắt
Bài viết khảo sát Thắng Quả tháp ký tịnh minh (1760) tại chùa Tam Thánh, còn gọi là chùa Hàm Long, dưới chân núi Vân Ổ, qua đó làm rõ hành trạng của thiền sư Tính Cơ và dấu ấn của Thiền phái Trúc Lâm tại vùng Thủy Đường xưa. Văn bia ghi lại quá trình xuất gia, tu học của Tính Cơ từ chùa Sùng Đức đến Long Động – Yên Tử, theo thiền sư Chân Nguyên, sau đó trở về các tự viện địa phương và trụ trì chùa Tam Thánh. Đặt văn bia này trong tương quan với các văn bia tại chùa Hoàng Mai (1721), chùa Linh Quang (1722) và một số di tích khác, bài viết bước đầu nhận diện mạng lưới truyền thừa và sự lan tỏa của Phật giáo Trúc Lâm từ các trung tâm truyền thừa đến các tự viện địa phương. Đồng thời, nghiên cứu nhấn mạnh giá trị của văn bia Phật giáo như nguồn tư liệu quan trọng để phục dựng lịch sử truyền thừa, đời sống Phật giáo, ký ức cộng đồng và bảo tồn di sản văn hóa địa phương; qua đó góp phần bổ sung tư liệu cho nghiên cứu Phật giáo Việt Nam nói chung và Thiền phái Trúc Lâm nói riêng.
Từ khoá
Thắng Quả tháp ký tịnh minhthiền sư Tính CơThiền phái Trúc Lâmvăn bia Phật giáotruyền thừa Phật giáodi sản Hán NômXem chi tiết bài viết ↗ -
66
Dung hợp tam giáo trong Cư trần lạc đạo phú
Tóm tắt
“Cư trần lạc đạo phú” là một trong những trước tác tiêu biểu của Trần Nhân Tông, thể hiện đầy đủ và đặc sắc tư tưởng của vị Sơ tổ phái Trúc Lâm. Bài phú là tiếng reo vui của một vị hoàng đế khi giác ngộ được giáo lý giải thoát siêu việt của Phật giáo, từ đó tuỳ duyên với đạo mà thong dong giữa đời. Xét cấu trúc tư tưởng, bài phú là sự tổng hoà đạt đến trạng thái vô phân biệt của tam giáo; xét trục tâm tư tưởng của tam giáo trong bài phú, cho thấy tác giả lúc bấy giờ với bản vị là một thiền sư đã có sở ngộ và đã lấy Thiền làm nền tảng để tiến hành dung hợp tam giáo. Trên cơ sở đó, bài viết tiến hành phân tích một số biểu hiện của dung hợp Tam giáo trong “Cư trần lạc đạo phú” của Điều Ngự Tổ Phật.
Từ khoá
Trần Nhân TôngĐiều Ngự Tổ PhậtCư trần lạc đạo phúdung hợp Tam giáoXem chi tiết bài viết ↗